|
Từ
xưa
y
học
và
dịch
học
đã
thông
thương
với
nhau
. "Nội
kinh
"
cuả
trung
y và
"
Chu
dịch
"
đều
cho
rằng
: Vũ
trụ
vạn
vật
là
do
vận
động
mà
sinh
ra .
Vận
động
là
vĩnh
hằng
.
Vận
động
sản
sinh
ra
sinh
mệnh
.
Vận
động
ngừng
thì
sinh
mệnh
cũng
kết
thúc
. Đó
là ý
nghĩa
quan
trọng
của
của
thế
giới
quan
vật
là
một
chỉnh
thể
cân
bằng
trong
vận
động
. Nó
có ý
nghĩa
là
bên
trong
và
bên
ngoài
cơ
thể
có
liên
quan
với
nhau
,
thống
nhất
với
nhau
.
Khí
âm
dương
,
ngũ
hành
mà
giờ
sinh
đắc
thụ
được
chính
là
mức
độ
phân
lượng
và
tính
chất
:
Kim
,
mộc
,
thủy
,
hỏa
,
thổ
được
biểu
thị
bằng
các
can
chi
.
Can
chi
của
năm
,
tháng
,
ngày
,
giờ
sinh
đại
biểu
cho
âm
dương
,
ngũ
hành
để
tượng
trưng
mô
hình
và
phản
ánh
kết
cấu
nội
bộ
trong
cơ
thể
.
Cơ
thể
có
cân
bằng
được
với
môi
trường
xung
quanh
hay
ko
sẽ
là
căn
cứ
để
giải
thích
vì
sao
các
tạng
phủ
trong
một
người
ra
đời
cùng
một
lúc
,
nhưng
có
cái
bị
bệnh
,
còn
những
cái
khác
lại
ko ,
đồng
thời
cũng
cắt
nghĩa
được
nguyên
nhân
vì
sao
mọi
người
sống
trên
trái
đất
,
nhưng
người
này
giàu
sang
,
người
kia
lại
nghèo
hèn
.
Duy
trì
sự
cân
bằng
của
âm
dương
,
ngũ
hành
là
khâu
quan
trọng
của
chức
năng
sinh
mệnh
. Âm
dương
bình
ổn ,
gắn
bó
thì
tinh
thần
còn
, âm
dương
tách
rời
nhau
thì
tinh
thần
hết
...
Sau
đây
là
cách
lập
lá
số :
Đầu
tiên
muốn
lập
lá
số
phải
có
lịch
vạn
niên
Tra
lịch
xem
năm
sinh
âm
lịch
là
năm
nào
, ví
dụ
năm
2009
là
kỷ
sửu
...
sau
đó
đến
tháng
sinh
âm
lịch
,
tháng
giêng
là
tháng
dần
, cứ
thế
mà
suy
ra
đến
tháng
chạp
là
tháng
sửu
.
Ngày
và
giờ
sinh
đều
có
trong
lịch
vạn
niên
, cứ
thế
mà
ghi
ra
giấy
Các
bạn
nên
lưu
ý
một
điều
tối
quan
trọng
trong
cách
sắp
xếp
tứ
trụ
.
Về
nắm
sinh
,
chúng
ta
căn
cứ
vào
tiết
lệnh
của
tiết
lập
xuân
,
người
sinh
trước
tiết
lập
xuân
thì
lấy
năm
đó
để
tính
, ví
dụ
năm
1974
,
tiết
lập
xuân
rơi
vào
giờ
Mùi
ngày
13
tháng
giêng
( âl
) ,
những
người
sinh
vào
giờ
ngọ
ngày
13
tháng
giêng
thì
phải
lấy
năm
1973
để
tính
(
tức
là
sinh
trước
lập
xuân
nên
vẫn
còn
năm
cũ )
.
Còn
về
tháng
sinh
thì
chúng
ta
căn
cứ
theo
tiết
lệnh
chứ
không
phải
căn
cứ
theo
sóc
,
vọng
của
mỗi
tháng
.
Tháng
giêng
bắt
đầu
từ
tiết
lập
xuân
,
tháng
hai
tiết
kinh
trập
, 3
:
thanh
minh
, 4
:
lập
hạ ,
5 :
mang
chủng
, 6
:
tiểu
thử
, 7
:
lập
thu
, 8
:
bạnh
lộ ,
9 :
hàn
lộ ,
10 :
lập
đông
, 11
:đại
tuyết
, 12
:
tiểu
hàn
.
sau
đây
là
ví
dụ
có
người
sinh
ngày
:
07-09-1971
,
giờ
ngọ
(
dương
lịch
)
ta
tra
lịch
ra
ngày
âm :
18-07-tân
hợi
,
giờ
nhâm
ngọ
,
người
này
sinh
trước
tiết
bạch
lộ
nên
vẫn
lấy
tháng
7 để
tính
,
nếu
người
này
sinh
ngày
19
thì
phải
tính
là
tháng
8 vì
giờ
thân
ngày
18
là
tiết
bạch
lộ .
cách
sắp
xếp
như
sau
:
NĂM
THÁNG
NGÀY
GIỜ
tân
hợi
bính
thân
ất
mùi
nhâm
ngọ
Sau
khi
sắp
xếp
năm
tháng
ngày
giờ
sinh
rồi
, ta
lần
lượt
tính
đại
vận
,
một
đại
vận
cai
quản
10
năm
,
một
đời
người
sống
khoảng
70
năm
nên
thường
chỉ
tính
đến
vận
thứ
7 mà
thôi
.
Nam
sinh
năm
dương
, nữ
sinh
năm
âm
thì
tính
thuận
vì
đó
là
thuận
theo
lẽ
tự
nhiên
.
còn
nữ
sinh
năm
dương
,
nam
sinh
năm
âm
thì
tính
ngịch
.
Thuận
là
tính
từ
giáp
tới
ất
....
còn
nghịch
là
từ
ất
tới
giáp
...
-
Cách
tính
như
sau
:
nếu
nam
sinh
năm
dương
, nữ
sinh
năm
âm
thì
lấy
từ
ngày
sinh
đến
tiết
lệnh
phía
sau
,
đếm
xem
có
bao
nhiêu
ngaỳ
,
lấy
số
ngày
đó
chia
cho
3 ,
được
bao
nhiêu
thì
đó
là
số
của
đại
vận
(
nhớ
là
ko
được
lớn
hơn
10 )
.
Nữ
sinh
năm
dương
,
nam
sinh
năm
âm
thì
tính
từ
ngaỳ
sinh
đến
tiết
lệnh
phía
trước
, có
bao
nhiêu
ngày
chia
cho
3 ,
được
bao
nhiêu
lấy
số
đó
làm
số
của
đại
vận
ví
dụ :
nam
sinh
ngaỳ
18-7-Tân
hợi
,
năm
hợi
là
năm
âm
nên
phải
tính
từ
ngày
sinh
đến
tiết
lệnh
phía
trước
.
Tra
lịch
vạn
niên
ta
thấy
tiết
lệnh
phía
trước
là
tiết
lập
thu
rơi
vào
ngày
18-6
, từ
18-6
đếm
đến
ngày
sinh
là
tròn
30
ngày
,
lấy
30:3=10
,
như
vậy
người
naỳ
10
tuôỉ
lập
đại
vận
thứ
nhất
, 20
tuổi
đại
vận
thứ
hai
...
cứ
thế
mà
tính
tiếp
đến
vận
thứ
7
hoặc
thứ
8 .
Nếu
nữ
mà
sinh
năm
này
thì
lấy
ngaỳ
sinh
đếm
đến
tiết
lệnh
phía
sau
,
tức
là
tiết
bạch
lộ ,
tiết
bạch
lộ
rơi
vào
ngaỳ
19 ,
tức
là
chỉ
có 1
ngày
, ta
thêm
vào
2
ngaỳ
nữa
thành
3
rồi
chia
cho
3 ,
như
vậy
nữ
mà
sinh
năm
này
thì
1
tuổi
tính
đại
vận
...Qua
đó
ta
có
thể
thấy
sự
khác
biệt
của
nam
và
nữ
là
rất
rõ
ràng
.
Sau
khi
tìm
ra
được
số
của
đại
vận
ta
bắt
đầu
tìm
can
chi
của
đại
vận
.
Lấy
tháng
sinh
làm
chuẩn
,
nam
dương
nữ
âm
thì
tính
thuận
, nữ
dương
nam
âm
thì
tính
nghịch
.
Vẫn
ví
dụ
trên
,
người
này
sinh
tháng
bình
thân
, vì
là
nam
sinh
năm
âm
nên
tính
ngược
,đại
vân
thứ
nhất
10
tuổi
là
ất
mùi
, 20
tuổi
là
giáp
ngọ
....
cứ
thế
mà
tính
ngược
lên
.
Nếu
là
nữ
thì
sẽ
là ,
đại
vận
1
tuổi
là
đinh
dậu
, 11
tuổi
là
mậu
tuất
...
THIÊN
CAN
VÀ
NGŨ
HÀNH
SỞ
THUỘC
:
giáp
ất
thuộc
mộc
,
giáp
là
dương
mộc
, ất
là
âm
mộc
.
Bính
đinh
là
hoả
,
bính
là
dương
hỏa
,
đinh
là
âm
hỏa
.
Mậu
kỷ
thuộc
thổ
,
mậu
là
dương
thổ
, kỷ
là
âm
thổ
.
Canh
tân
thuộc
kim
,
canh
là
dương
kim
,
tân
là
âm
kim
.
Nhâm
quý
thuộc
thủy
,
nhâm
là
dương
thủy
,
quý
là
âm
thủy
.
Đạo
trời
có
âm
có
dương
, có
nóng
có
lạnh
nên
tất
thảy
mọi
việc
đều
phải
có
âm
dương
, đó
là
lẽ
tất
nhiên
.
2/
ĐỊA
CHI
VÀ
NGŨ
HÀNH
SỞ
THUỘC
Hợi
tý
là
thuỷ
,
hợi
là
dương
, tý
là
âm .
Tỵ
ngọ
là
hỏa
, tỵ
là
dương
,
ngọ
là
âm .
thân
dậu
là
kim
,
thân
là
dương
,
dậu
là
âm .
Dần
mão
là
mộc
,
dần
là
dương
,
mão
là
âm .
Thì
tuất
sửu
mùi
là
thổ
,
thìn
tuất
là
dương
,
sưủ
mùi
là
âm .
tại
sao
Hợ
là
dương
? vì
trong
hợ
tàng
chứa
2
thiên
can
giáp
,
nhâm
, 2
can
này
thuộc
dương
nên
hợi
là
dương
thủy
,
dương
thủy
là
nước
của
đaị
dương
,
còn
âm
thủy
là
nước
của
sông
hồ ,
hai
caí
đó
hoàn
toàn
khác
nhau
.
ĐỊA
CHI
TÀNG
CHỨA
THIÊN
CAN
:
tý
chứa
quý
,
hợi
chứa
giáp
,
nhâm
.
Dần
chứa
:
giáp
,
bính
,
mậu
.
Mão
chứa
: ất
.
Thìn
chưá
: ất
mậu
quý
. Tỵ
chưá
:
canh
,
bính
,
mậu
.
Ngọ
chứa
: kỷ
,
đinh
.
Mùi
chưá
: ất
kỷ ,
đinh
.
Thân
chứa
:
mậu
,
canh
,
nhậm
.
Dậu
chứa
:
tân
.
Tuất
chứa
:
mậu
,
đinh
,
tân
.
Hợi
chứa
:
giáp
,
nhâm
.
3/
NGŨ
HÀNH
SINH
KHẮC
:
kim
khắc
mộc
,
mộc
khắc
thổ
,
thổ
khắc
thủy
,
thủy
khắc
hỏa
,
hỏa
khắc
kim
.
kim
sinh
thủy
,
thủy
sinh
mộc
,
mộc
sinh
hỏa
,
hỏa
sinh
thổ
,
thổ
sinh
kim
4/
ĐỊA
CHI
TƯƠNG
XUNG
:
tý
xung
ngọ
,
thìn
xung
tuất
,
sửu
xung
mùi
,
dần
xung
thân
,
mão
xung
dậu
, tỵ
xung
hợi
Tý
ngọ
mão
dâụ
gọi
là
tứ
vượng
,
dần
thân
tỵ
hợi
gọi
là
tứ
sinh
,
thìn
tuất
sửu
mùi
gọi
là
tứ
mộ .
Vì
sao
gọi
như
thế
? vì
thủy
trường
sinh
ở
thân
,
vượng
ở tý
, mộ
ở
thìn
...
những
cái
khác
cũng
suy
từ
đo'
mà
ra .
5/
ĐỊA
CHI
TƯƠNG
HỢP
:
tý
hợp
với
sửu
,
dần
hợp
với
hợi
,
mão
hợp
với
tuất
,
thìn
hợp
với
dậu
, tỵ
hợp
với
thân
,
ngọ
hợp
với
muì
6/
ĐỊA
CHI
TƯƠNG
HÌNH
:
tý
với
mão
tương
hình
.
sửu
tuất
mùi
tương
hình
lẫn
nhau
,
dần
tỵ
thân
tương
hình
.
7/
VÒNG
TRƯỜNG
SINH
:
trường
sinh
,
mộc
dục
,
quan
đới
,
lâm
quan
, đế
vượng
,
suy
,
bệnh
, tử
,
tuyệt
,
thai
,
dưỡng
. Từ
trường
sinh
cho
đến
đế
vượng
là
tốt
, từ
suy
cho
đến
dưỡng
là
xấu
.
Để
cho
dễ
nhớ
chúng
ta
sẽ
áp
dụng
lên
bàn
tay
,
cách
thức
nnhư
sau
:
giáp
bính
mậu
canh
nhậm
thuộc
dương
nên
chúng
ta
dịch
chuyển
nó
đi
thuận
theo
từng
lằn
ranh
giới
giữa
các
đốt
ngón
tay
,
tức
là
theo
chiều
kim
đồng
hồ .
Còn
ất
đinh
kỷ
tân
quý
thuộc
âm
nên
chúng
ta
cho
nó
đi
ngược
chiều
kim
đồng
hồ .
chúng
ta
ngửa
bàn
tay
trái
lên
,
lằn
dưới
cùng
của
ngón
trỏ
là
cung
dần
,
lằn
kế
kiếp
là
cung
mão
,
lằn
kế
nữa
là
cung
thìn
,
chỗ
đầu
móng
tay
ngón
trỏ
là
cung
tỵ ,
đầu
móng
tay
ngón
giữa
là
cung
ngọ
,
đâù
móng
tay
ngón
đeo
nhẫn
là
cung
mùi
,
đâù
ngón
tay
út
là
cung
thân
,
lằn
kế
tiếp
cung
thân
ở
ngón
út
là
cung
dậu
,
xuống
nữa
là
cung
tuất
,
lằn
cuối
cùng
của
ngón
út
là
cung
hợi
,
lằn
uối
cùng
của
ngón
đeo
nhẫn
là
cung
tý ,
lằn
cuối
cùng
của
ngón
giữa
là
cung
sửu
.
Như
vậy
có 4
lằn
trong
đốt
giữa
của
ngón
giữa
và
ngón
đeo
nhẫn
chúng
ta
ko
sử
dụng
đến
.
Bây
giờ
chúng
ta
tính
tiếp
coi
thiên
can
nào
suy
vượng
ra
sao
nhé
,
các
bạn
phải
học
thuộc
lòng
vòng
trường
sinh
thì
mới
dễ
tính
hơn
,
thứ
tự
như
tôi
nêu
ở
trên
,
trường
sinh
rồi
tời
mộc
dục
rồi
tới
quan
đới
.....cuối
cùng
là
dưỡng
.
giáp
là
dương
nên
chúng
ta
cho
nó
di
chuyển
theo
chiều
kim
đồng
hồ
nhé
Giáp
trường
sinh
ở
hợi
,
cung
hợi
là
cung
cuối
cùng
của
ngón
út
nên
chúng
ta
bấm
ngón
cái
lên
đó ,
rồi
đọc
tiếp
mộc
dục
,
miệng
đọc
tay
chuyển
qua
cung
tý ,
quan
đới
ở
sửu
...
cứ
thế
mà
suy
Bính
trường
sinh
ở
dần
,
bấm
đầu
ngón
cái
lên
cung
dần
,
rồi
đọc
tiếp
và
di
chuyển
thuận
...Mậu
và
bính
đều
trường
sinh
ở
dần
nên
tính
chung
với
bính
, vì
mậu
thuộc
dương
nên
cũng
di
chuyển
thuận
.
Canh
trường
sinh
ở tỵ
,
canh
thuộc
dương
nên
đi
thuận
.
Nhâm
trường
sinh
ở
thân
,
nhậm
thuộc
dương
nên
cũng
đi
thuận
.
Ất
trường
sinh
ở
ngọ
, ất
thuộc
âm
nên
đi
nghịch
chiều
kim
đồng
hồ .
Cung
ngọ
nằm
ở
đâù
móng
tay
giữa
,
mộc
dục
ở tỵ
,
quan
đới
ở
thìn
...
Đinh
kỷ
trường
sinh
ở
dâụ
,
mộc
dục
ở
thân
,
quan
đới
ở
mùi
,
lâm
quan
ở
ngọ
, đế
vượng
ở tỵ
,
suy
ở
thìn
...
Tân
trường
sinh
ở tý
,
tân
thuộc
âm
nên
đi
nghịch
Quý
trường
sinh
ở
mão
,
mộc
dục
ở
dần
...
Tại
sao
mậu
kỷ
lại
ăn
theo
bính
đinh
? vì
mậu
kỷ
thuộc
thổ
mà
thổ
là
mộ
kho
của
tất
cả
vạn
vật
khi
chết
đi
đều
về
với
đất
,
nên
thổ
ko
có
sinh
mà
phải
ký
gởi
vô
hỏa
.
Sau
khi
sắp
xếp
xong
tứ
trụ
, ta
an
các
"
Thần
" .
Lấy
thiên
can
của
ngày
sinh
làm
cung
bản
mệnh
, ví
dụ
người
sinh
ngày
Tân
Mùi
,
thì
chữ
Tân
là
cung
bản
mệnh
,
còn
gọi
là
nhật
chủ
.
Cách
tính
như
sau
:
Cái
sinh
ta
là
ấn
thụ
,
dương
sinh
dương
là
thiên
ấn (
âm
sinh
âm
cũng
vậy
) ,
dương
sinh
âm
hoặc
âm
sinh
dương
là
chính
ấn .
Chính
ấn
là
mẹ
ruột
,
thiên
ấn
là
mẹ
kế .
Như
ví
dụ
trên
ngày
Tân
,
Tân
thuộc
kim
,
mậu
thuộc
thổ
,
thổ
sinh
kim
,
mậu
là
dương
thổ
sinh
tân
âm
kim
nên
gọi
là
chính
ấn .
Còn
kỷ
thổ
thuộc
âm
thổ
, âm
thổ
sinh
âm
kim
gọi
là
thiên
ấn .
Cái
khắc
ta
là
quan
sát
,
dương
khắc
âm ,
âm
khắc
dương
là
chính
quan
,
dương
khắc
dương
, âm
khắc
âm
gọi
là
thất
sát
.
Quan
ở
đây
tượng
trưng
cho
công
viêc
, sự
nghiệp
,
công
việc
thì
hay
ràng
buộc
ta
nên
nó
phải
khắc
ta
đúng
với
lẽ
tự
nhiên
.
Cũng
ví
dụ
trên
thì
cái
khắc
ta
là
hoả
bính
,
đinh
.Bính
thuộc
dương
khắc
ta
thuộc
âm
nên
gọi
là
chính
quan
,
đinh
thuộc
âm
hỏa
khắc
ta
là
âm
kim
nên
gọi
là
thất
sát
.
Chính
quan
đaị
biểu
cho
công
việc
,
quan
vận
,
chức
tước
,
quyền
quý
.
Cón
thất
sát
đại
biểu
cho
cái
ác
như
tiểu
nhân
,
đâm
chém
,
giang
hồ ,
nóng
tính
,
hung
bạo
...
Cái
ta
khắc
là
thê
tài
,
thê
tài
đại
biểu
cho
tiền
của
, vợ
.
Tiền
tài
là
do
mình
làm
ra
nó ,
mình
sử
dụng
nó
nên
dĩ
nhiên
là
cái
ta
khắc
rồi
. Vợ
cũng
tương
tự
vậy
(
nếu
ko
phải
thì
thôi
nhé
) .Ví
dụ
trên
thì
tân
kim
khắc
giáp
mộc
,
giáp
là
dương
nên
là
chính
tài
,
chính
tài
là
tiền
do
mình
làm
ra ,
còn
thiên
tài
là
tiền
hoạnh
tài
,
thừa
kế
..vv.
Cái
ta
sinh
ra
là
con
ta ,
còn
gọi
là
thực
,
thương
, âm
sinh
dương
,
dương
sinh
âm
là
con
gái
gọi
là
thương
quan
.
Dương
sinh
dương
, âm
sinh
âm
là
con
trai
gọi
là
thực
thần
.
Tân
kim
sinh
nhâm
thủy
là
thương
quan
,
tân
kim
sinh
quý
thủy
là
thực
thần
.
Thương
quan
thường
chống
lại
chính
quan
nên
những
người
trong
mệnh
có
chính
quan
và
lại
còn
có
thương
quan
thì
cônmg
việc
luôn
trắc
trở
.
Cái
ngang
hòa
với
ta
thì
gọi
là
ngang
vai
hoặc
là
tỷ ,
kiếp
, nó
giống
như
huynh
đệ
trong
tử
vi .
dương
,
dương
, âm
âm
là
tỷ .
âm
dương
,
dương
âm
là
kiếp
. Tỷ
kiếp
là
thần
phá
tài
làm
hao
tốn
tiền
bạc
,
nghèo
khó
.
Người
mà
trong
mệnh
tỷ ,
kiếp
nhiêu
thì
ham
cờ
bạc
,
kiếm
tiền
khó
khăn
,
khắc
vợ ,
khắc
cha
...
Như
vậy
là
từ
thiên
can
của
ngày
sinh
mà
ta
đã
biết
được
10
thần
.
Sau
khi
sap
xếp
tứ
trụ
và
an
10
thần
rồi
, ta
tìm
xem
thần
sát
nào
có
trong
mệnh
của
ta ,
thần
sát
đó
có
lợ
hay
hại
cho
mệnh
cục
?
Xin
các
bác
lưu
ý
rằng
: Tứ
trụ
lấy
sự
trung
hoà
làm
quý
,
vật
đầy
tất
sẽ
tràn
,
thái
quá
cũng
ko
tốt
và
bất
cập
thì
càng
ko
nên
(
thái
quá
là
ngũ
hành
vượng
quá
mà
còn
được
sinh
thêm
,
còn
bất
cập
là
ngũ
hành
đã
yêú
mà
còn
bị
khắc
chế
) .
THẦN
VÀ
SÁT
TRONG
TỨ
TRỤ
:
1/
THIÊN
ẤT
QUÝ
NHÂN
thiên
ất
là
thần
hoá
giải
cát
hung
của
mệnh
,
nếu
vận
hạn
đang
gặp
xấu
mà
tỏng
mệnh
có
thiên
ất
thì
cái
xấu
sẽ
giảm
nhẹ
.
trong
mệnh
có
nhiều
thiên
ất
là
người
nhân
từ ,
ít
gặp
điều
xấu
xaỷ
ra .
Lấy
thiên
can
của
năm
và
của
ngày
để
tìm
ra
thiên
ất .
người
sinh
ngaỳ
hoặc
năm
Giáp
,
Mậu
,
trong
tứ
trụ
có
địa
chi
sửu
,
muì
là
có
thiên
ất .
Người
sinh
ngày
và
năm
Ất ,
Kỷ ,
trong
tứ
trụ
có
tý ,
thân
là
có
thiên
ất
Bính
,
Đinh
gặp
hợi
,
dậu
là
thiên
ất
Nhâm
,
Quý
gặp
tỵ ,
mão
là
thiên
ất
Canh
,
Tân
gặp
dần
,
ngọ
là
thiên
ất
2/
THIÊN
ĐỨC
QUÝ
NHÂN
Thiên
đức
là
thần
hộ
mệnh
, ai
có
nó
thì
cuộc
đời
ít
gặp
nguy
hiểm
,
cũng
tương
tự
như
thiên
ất .
Sinh
tháng
1
thấy
đinh
, 2
thấy
thân
, 3
thấy
nhâm
, 4
thấy
tân
, 5
thấy
hợi
, 6
thấy
giáp
7
thấy
quý
, 8
thấy
dần
, 9
thấy
bính
, 10
thâý
ất ,
11
thấy
tỵ ,
12
thấy
canh
. đó
là
thiên
đức
3/
NGUYỆT
ĐỨC
sinh
tháng
dần
ngọ
tuất
thấy
bính
sinh
tháng
thân
tý
thìn
thấy
nhâm
sinh
tháng
hợi
mão
mùi
thấy
giáp
sinh
tháng
tỵ
dậu
sưủ
thấy
canh
4/
TAM
KỲ
QUÝ
NHÂN
:
Tam
kỳ
chủ
về
người
có
kỳ
tài
đặc
biệt
,
người
nào
có
tam
kỳ
thì
tinh
thần
người
đó
khác
thường
,
hoài
bão
to
lớn
,
thích
to
tát
,
biết
rộng
,
nhiều
tài
Trong
mệnh
gặp
những
thiên
can
như
sau
là
có
tam
kỳ :
thiên
kỳ :
giáp
mậu
canh
địa
kỳ :
ất
bính
đinh
nhân
kỳ :
nhâm
quý
tân
trong
năm
tháng
ngày
giờ
sinh
gặp
3
thiên
can
như
trên
là
có
tam
kỳ
5/TRẠCH
MÃ :
sao
này
chủ
về
người
có
công
việc
lưu
động
, dễ
đi
ra
nước
ngoài
,
nếu
vận
gặp
sao
này
thì
trong
vòng
10
năm
di
chuyển
liên
tục
,
thay
đổi
chỗ
ở
người
mà
ngaỳ
và
năm
sinh
có
địa
chi
là :
thân
, tý
,
thìn
gặp
dần
là
mã .
Ví
dụ
người
sinh
ngày
thân
gặp
tháng
hoặc
giờ
dần
thì
người
đó
có
sao
mã
dần
ngọ
tuất
mã ở
thân
tỵ
dậu
sửu
mã ở
hợi
hợi
mão
mùi
mã ở
tỵ
6/
HOA
CÁI
:
sao
hoa
cái
là
sao
hợp
với
thần
linh
,
hội
họa
, âm
nhạc
.
người
có
sao
này
chủ
về
thông
minh
,
tài
hoa
nhưng
tính
tình
cao
ngạo
,
mệnh
có
sao
hoa
caí
nhiêù
quá
chủ
về
đi
tu ,
tâm
thần
bất
an
Người
sinh
năm
hoặc
ngaỳ
:
dần
,
ngọ
,
tuất
thấy
tuất
là
có
hoa
cái
người
sinh
năm
hoặc
ngày
hợi
mão
mùi
thấy
mùi
là
có
sao
hoa
cái
người
sinh
thân
tý
thìn
thấy
thìn
là
có
hoa
cái
người
sinh
tỵ
dậu
sửu
thấy
sửu
là
có
sao
hoa
cái
7/ĐÀO
HOA
đào
hoa
chủ
về
đẹp
,
kheó
tay
,
người
mà
tứ
trụ
gặp
sao
này
thì
không
những
bản
thân
đẹp
mà
người
thân
cũng
đẹp
,
nhưng
sao
này
chủ
về
quan
hệ
bất
chính
,
tình
cảm
không
thuận
thân
tý
thìn
thấy
dậu
là
đào
hoa
(
lấy
năm
và
ngày
sinh
để
tra
)
tỵ
dậu
sửu
thấy
ngọ
là
đào
hoa
dần
ngọ
tuất
thấy
mão
là
đào
hoa
hợi
mão
mùi
thấy
tí
là
đào
hoa
8/KÌNH
DƯƠNG
SAO
NÀY
CHỦ
VỀ
MÁU
ME ,
tai
nạn
,
vận
gặp
kình
dương
thì
dễ
gặp
bị
thương
hoặc
mất
mạng
Lấy
thiên
can
của
ngày
sinh
làm
chuẩn
để
tính
ngaỳ
giáp
thấy
mão
là
kình
dương
, ất
thấy
dần
,
bính
mậu
thấy
ngọ
,
đinh
kỳ
thấy
tỵ ,
canh
thấy
dậu
,
tân
thấy
thân
,
nhậm
thấy
tí ,
quý
thấy
hợi
còn
rất
nhiều
thần
và
sát
nhưng
trong
thực
tế
thì
những
thần
mà
tôi
liệt
kê
ra
là
có
tác
dụng
,
còn
những
thần
sát
khác
không
có ý
nghĩa
gì
nên
tôi
ko
liệt
kê
ra .
(Theo
Minh
Quân)
|