Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tử vi & Phong thủy

Mục lục

Tử vi Tây Phương:

 

Tử vi Á Đông:

Luận - Học - Thuật số - Tử vi:

Bảng tra cần thiết:

Tử bình:

 

Tử vi & Phong thủy - Phụ trách TN. 10/2010.

"Tử vi kim chỉ nam HÀNH ĐỘNG, giúp con người. Cần gặp Thầy giỏi có thực học."
Phong Thủy Tử Vi Gia Thiên Phúc

=============================================

Lưu ý : Tử Vi
Gặp Dr. giỏi thuốc vào bịnh khỏi, mạnh khỏe yêu đời.
Gặp Thầy Tử vi giỏi chỉ đường sáng phát huy tài năng, thành công và nhiều hạnh phúc.
(Gặp Thầy Tử vi không có thực học kinh nghiệm,
chấm/đoán sai, thân chủ tin (chấp) sai là thật và sẽ đi sai đường. Tai hại.)

====

 

Học đoán vận mệnh theo tử bình

 

Từ xưa y học và dịch học đã thông thương với nhau . "Nội kinh " cuả trung y và " Chu dịch " đều cho rằng : Vũ trụ vạn vật là do vận động mà sinh ra . Vận động là vĩnh hằng . Vận động sản sinh ra sinh mệnh . Vận động ngừng thì sinh mệnh cũng kết thúc . Đó là ý nghĩa quan trọng của của thế giới quan vật là một chỉnh thể cân bằng trong vận động . Nó có ý nghĩa là bên trong và bên ngoài cơ thể có liên quan với nhau , thống nhất với nhau .

Khí âm dương , ngũ hành mà giờ sinh đắc thụ được chính là mức độ phân lượng và tính chất : Kim , mộc , thủy , hỏa , thổ được biểu thị bằng các can chi . Can chi của năm , tháng , ngày , giờ sinh đại biểu cho âm dương , ngũ hành để tượng trưng mô hình và phản ánh kết cấu nội bộ trong cơ thể .

Cơ thể có cân bằng được với môi trường xung quanh hay ko sẽ là căn cứ để giải thích vì sao các tạng phủ trong một người ra đời cùng một lúc , nhưng có cái bị bệnh , còn những cái khác lại ko , đồng thời cũng cắt nghĩa được nguyên nhân vì sao mọi người sống trên trái đất , nhưng người này giàu sang , người kia lại nghèo hèn . Duy trì sự cân bằng của âm dương , ngũ hành là khâu quan trọng của chức năng sinh mệnh . Âm dương bình ổn , gắn bó thì tinh thần còn , âm dương tách rời nhau thì tinh thần hết ...

Sau đây là cách lập lá số :
Đầu tiên  muốn lập lá số phải có lịch vạn niên
Tra lịch xem năm sinh âm lịch là năm nào , ví dụ năm 2009 là kỷ sửu ...
sau đó đến tháng sinh âm lịch , tháng giêng là tháng dần , cứ thế mà suy ra đến tháng chạp là tháng sửu .
Ngày và giờ sinh đều có trong lịch vạn niên , cứ thế mà ghi ra giấy
Các bạn nên lưu ý một điều tối quan trọng trong cách sắp xếp tứ trụ .

Về nắm sinh , chúng ta căn cứ vào tiết lệnh của tiết lập xuân , người sinh trước tiết lập xuân thì lấy năm đó để tính , ví dụ năm 1974 , tiết lập xuân rơi vào giờ Mùi ngày 13 tháng giêng ( âl ) , những người sinh vào giờ ngọ ngày 13 tháng giêng thì phải lấy năm 1973 để tính ( tức là sinh trước lập xuân nên vẫn còn năm cũ ) .

Còn về tháng sinh thì chúng ta căn cứ theo tiết lệnh chứ không phải căn cứ theo sóc , vọng của mỗi tháng .

Tháng giêng bắt đầu từ tiết lập xuân , tháng hai tiết kinh trập , 3 : thanh minh , 4 : lập hạ , 5 : mang chủng , 6 : tiểu thử , 7 : lập thu , 8 : bạnh lộ , 9 : hàn lộ , 10 : lập đông , 11 :đại tuyết , 12 : tiểu hàn .
sau đây là ví dụ
có người sinh ngày : 07-09-1971 , giờ ngọ ( dương lịch )
ta tra lịch ra ngày âm : 18-07-tân hợi , giờ nhâm ngọ , người này sinh trước tiết bạch lộ nên vẫn lấy tháng 7 để tính , nếu người này sinh ngày 19 thì phải tính là tháng 8 vì giờ thân ngày 18 là tiết bạch lộ .
cách sắp xếp như sau :

NĂM THÁNG NGÀY GIỜ
tân hợi bính thân ất mùi nhâm ngọ

Sau khi sắp xếp năm tháng ngày giờ sinh rồi , ta lần lượt tính đại vận , một đại vận cai quản 10 năm , một đời người sống khoảng 70 năm nên thường chỉ tính đến vận thứ 7 mà thôi . Nam sinh năm dương , nữ sinh năm âm thì tính thuận vì đó là thuận theo lẽ tự nhiên . còn nữ sinh năm dương , nam sinh năm âm thì tính ngịch . Thuận là tính từ giáp tới ất .... còn nghịch là từ ất tới giáp ...

- Cách tính như sau : nếu nam sinh năm dương , nữ sinh năm âm thì lấy từ ngày sinh đến tiết lệnh phía sau , đếm xem có bao nhiêu ngaỳ , lấy số ngày đó chia cho 3 , được bao nhiêu thì đó là số của đại vận ( nhớ là ko được lớn hơn 10 ) .

Nữ sinh năm dương , nam sinh năm âm thì tính từ ngaỳ sinh đến tiết lệnh phía trước , có bao nhiêu ngày chia cho 3 , được bao nhiêu lấy số đó làm số của đại vận
ví dụ : nam sinh ngaỳ 18-7-Tân hợi , năm hợi là năm âm nên phải tính từ ngày sinh đến tiết lệnh phía trước . Tra lịch vạn niên ta thấy tiết lệnh phía trước là tiết lập thu rơi vào ngày 18-6 , từ 18-6 đếm đến ngày sinh là tròn 30 ngày , lấy 30:3=10 , như vậy người naỳ 10 tuôỉ lập đại vận thứ nhất , 20 tuổi đại vận thứ hai ... cứ thế mà tính tiếp đến vận thứ 7 hoặc thứ 8 . Nếu nữ mà sinh năm này thì lấy ngaỳ sinh đếm đến tiết lệnh phía sau , tức là tiết bạch lộ , tiết bạch lộ rơi vào ngaỳ 19 , tức là chỉ có 1 ngày , ta thêm vào 2 ngaỳ nữa thành 3 rồi chia cho 3 , như vậy nữ mà sinh năm này thì 1 tuổi tính đại vận ...Qua đó ta có thể thấy sự khác biệt của nam và nữ là rất rõ ràng .
Sau khi tìm ra được số của đại vận ta bắt đầu tìm can chi của đại vận . Lấy tháng sinh làm chuẩn , nam dương nữ âm thì tính thuận , nữ dương nam âm thì tính nghịch . Vẫn ví dụ trên , người này sinh tháng bình thân , vì là nam sinh năm âm nên tính ngược ,đại vân thứ nhất 10 tuổi là ất mùi , 20 tuổi là giáp ngọ .... cứ thế mà tính ngược lên . Nếu là nữ thì sẽ là , đại vận 1 tuổi là đinh dậu , 11 tuổi là mậu tuất ...


THIÊN CAN VÀ NGŨ HÀNH SỞ THUỘC :
giáp ất thuộc mộc , giáp là dương mộc , ất là âm mộc . Bính đinh là hoả , bính là dương hỏa , đinh là âm hỏa . Mậu kỷ thuộc thổ , mậu là dương thổ , kỷ là âm thổ . Canh tân thuộc kim , canh là dương kim , tân là âm kim . Nhâm quý thuộc thủy , nhâm là dương thủy , quý là âm thủy . Đạo trời có âm có dương , có nóng có lạnh nên tất thảy mọi việc đều phải có âm dương , đó là lẽ tất nhiên .

2/ ĐỊA CHI VÀ NGŨ HÀNH SỞ THUỘC
Hợi tý là thuỷ , hợi là dương , tý là âm . Tỵ ngọ là hỏa , tỵ là dương , ngọ là âm . thân dậu là kim , thân là dương , dậu là âm . Dần mão là mộc , dần là dương , mão là âm . Thì tuất sửu mùi là thổ , thìn tuất là dương , sưủ mùi là âm .
tại sao Hợ là dương ? vì trong hợ tàng chứa 2 thiên can giáp , nhâm , 2 can này thuộc dương nên hợi là dương thủy , dương thủy là nước của đaị dương , còn âm thủy là nước của sông hồ , hai caí đó hoàn toàn khác nhau .
ĐỊA CHI TÀNG CHỨA THIÊN CAN :
tý chứa quý , hợi chứa giáp , nhâm . Dần chứa : giáp , bính , mậu . Mão chứa : ất . Thìn chưá : ất mậu quý . Tỵ chưá : canh , bính , mậu . Ngọ chứa : kỷ , đinh . Mùi chưá : ất kỷ , đinh . Thân chứa : mậu , canh , nhậm . Dậu chứa : tân . Tuất chứa : mậu , đinh , tân . Hợi chứa : giáp , nhâm .

3/ NGŨ HÀNH SINH KHẮC :
kim khắc mộc , mộc khắc thổ , thổ khắc thủy , thủy khắc hỏa , hỏa khắc kim .
kim sinh thủy , thủy sinh mộc , mộc sinh hỏa , hỏa sinh thổ , thổ sinh kim
 

4/ ĐỊA CHI TƯƠNG XUNG :
tý xung ngọ , thìn xung tuất , sửu xung mùi , dần xung thân , mão xung dậu , tỵ xung hợi
Tý ngọ mão dâụ gọi là tứ vượng , dần thân tỵ hợi gọi là tứ sinh , thìn tuất sửu mùi gọi là tứ mộ . Vì sao gọi như thế ? vì thủy trường sinh ở thân , vượng ở tý , mộ ở thìn ... những cái khác cũng suy từ đo' mà ra .
 

5/ ĐỊA CHI TƯƠNG HỢP :
tý hợp với sửu , dần hợp với hợi , mão hợp với tuất , thìn hợp với dậu , tỵ hợp với thân , ngọ hợp với muì


6/ ĐỊA CHI TƯƠNG HÌNH :
tý với mão tương hình . sửu tuất mùi tương hình lẫn nhau , dần tỵ thân tương hình .
7/ VÒNG TRƯỜNG SINH :
trường sinh , mộc dục , quan đới , lâm quan , đế vượng , suy , bệnh , tử , tuyệt , thai , dưỡng . Từ trường sinh cho đến đế vượng là tốt , từ suy cho đến dưỡng là xấu .
Để cho dễ nhớ chúng ta sẽ áp dụng lên bàn tay , cách thức nnhư sau :
giáp bính mậu canh nhậm thuộc dương nên chúng ta dịch chuyển nó đi thuận theo từng lằn ranh giới giữa các đốt ngón tay , tức là theo chiều kim đồng hồ .

Còn ất đinh kỷ tân quý thuộc âm nên chúng ta cho nó đi ngược chiều kim đồng hồ . chúng ta ngửa bàn tay trái lên , lằn dưới cùng của ngón trỏ là cung dần , lằn kế kiếp là cung mão , lằn kế nữa là cung thìn , chỗ đầu móng tay ngón trỏ là cung tỵ , đầu móng tay ngón giữa là cung ngọ , đâù móng tay ngón đeo nhẫn là cung mùi , đâù ngón tay út là cung thân , lằn kế tiếp cung thân ở ngón út là cung dậu , xuống nữa là cung tuất , lằn cuối cùng của ngón út là cung hợi , lằn uối cùng của ngón đeo nhẫn là cung tý , lằn cuối cùng của ngón giữa là cung sửu . Như vậy có 4 lằn trong đốt giữa của ngón giữa và ngón đeo nhẫn chúng ta ko sử dụng đến .

Bây giờ chúng ta tính tiếp coi thiên can nào suy vượng ra sao nhé , các bạn phải học thuộc lòng vòng trường sinh thì mới dễ tính hơn , thứ tự như tôi nêu ở trên , trường sinh rồi tời mộc dục rồi tới quan đới .....cuối cùng là dưỡng .
giáp là dương nên chúng ta cho nó di chuyển theo chiều kim đồng hồ nhé

Giáp trường sinh ở hợi , cung hợi là cung cuối cùng của ngón út nên chúng ta bấm ngón cái lên đó , rồi đọc tiếp mộc dục , miệng đọc tay chuyển qua cung tý , quan đới ở sửu ... cứ thế mà suy

Bính trường sinh ở dần , bấm đầu ngón cái lên cung dần , rồi đọc tiếp và di chuyển thuận ...Mậu và bính đều trường sinh ở dần nên tính chung với bính , vì mậu thuộc dương nên cũng di chuyển thuận .
Canh trường sinh ở tỵ , canh thuộc dương nên đi thuận . Nhâm trường sinh ở thân , nhậm thuộc dương nên cũng đi thuận .
Ất trường sinh ở ngọ , ất thuộc âm nên đi nghịch chiều kim đồng hồ . Cung ngọ nằm ở đâù móng tay giữa , mộc dục ở tỵ , quan đới ở thìn ...
Đinh kỷ trường sinh ở dâụ , mộc dục ở thân , quan đới ở mùi , lâm quan ở ngọ , đế vượng ở tỵ , suy ở thìn ...
Tân trường sinh ở tý , tân thuộc âm nên đi nghịch
Quý trường sinh ở mão , mộc dục ở dần ...
Tại sao mậu kỷ lại ăn theo bính đinh ? vì mậu kỷ thuộc thổ mà thổ là mộ kho của tất cả vạn vật khi chết đi đều về với đất , nên thổ ko có sinh mà phải ký gởi vô hỏa .

Sau khi sắp xếp xong tứ trụ , ta an các " Thần " .
 

Lấy thiên can của ngày sinh làm cung bản mệnh , ví dụ người sinh ngày Tân Mùi , thì chữ Tân là cung bản mệnh , còn gọi là nhật chủ . Cách tính như sau :
Cái sinh ta là ấn thụ , dương sinh dương là thiên ấn ( âm sinh âm cũng vậy ) , dương sinh âm hoặc âm sinh dương là chính ấn .

Chính ấn là mẹ ruột , thiên ấn là mẹ kế . Như ví dụ trên ngày Tân , Tân thuộc kim , mậu thuộc thổ , thổ sinh kim , mậu là dương thổ sinh tân âm kim nên gọi là chính ấn . Còn kỷ thổ thuộc âm thổ , âm thổ sinh âm kim gọi là thiên ấn .
 

Cái khắc ta là quan sát , dương khắc âm , âm khắc dương là chính quan , dương khắc dương , âm khắc âm gọi là thất sát . Quan ở đây tượng trưng cho công viêc , sự nghiệp , công việc thì hay ràng buộc ta nên nó phải khắc ta đúng với lẽ tự nhiên .

Cũng ví dụ trên thì cái khắc ta là hoả bính , đinh .Bính thuộc dương khắc ta thuộc âm nên gọi là chính quan , đinh thuộc âm hỏa khắc ta là âm kim nên gọi là thất sát . Chính quan đaị biểu cho công việc , quan vận , chức tước , quyền quý . Cón thất sát đại biểu cho cái ác như tiểu nhân , đâm chém , giang hồ , nóng tính , hung bạo ...

Cái ta khắc là thê tài , thê tài đại biểu cho tiền của , vợ . Tiền tài là do mình làm ra nó , mình sử dụng nó nên dĩ nhiên là cái ta khắc rồi . Vợ cũng tương tự vậy ( nếu ko phải thì thôi nhé ) .Ví dụ trên thì tân kim khắc giáp mộc , giáp là dương nên là chính tài , chính tài là tiền do mình làm ra , còn thiên tài là tiền hoạnh tài , thừa kế ..vv.

Cái ta sinh ra là con ta , còn gọi là thực , thương , âm sinh dương , dương sinh âm là con gái gọi là thương quan . Dương sinh dương , âm sinh âm là con trai gọi là thực thần . Tân kim sinh nhâm thủy là thương quan , tân kim sinh quý thủy là thực thần . Thương quan thường chống lại chính quan nên những người trong mệnh có chính quan và lại còn có thương quan thì cônmg việc luôn trắc trở .

Cái ngang hòa với ta thì gọi là ngang vai hoặc là tỷ , kiếp , nó giống như huynh đệ trong tử vi . dương , dương , âm âm là tỷ . âm dương , dương âm là kiếp . Tỷ kiếp là thần phá tài làm hao tốn tiền bạc , nghèo khó . Người mà trong mệnh tỷ , kiếp nhiêu thì ham cờ bạc , kiếm tiền khó khăn , khắc vợ , khắc cha ...
Như vậy là từ thiên can của ngày sinh mà ta đã biết được 10 thần .

Sau khi sap xếp tứ trụ và an 10 thần rồi , ta tìm xem thần sát nào có trong mệnh của ta , thần sát đó có lợ hay hại cho mệnh cục ? Xin các bác lưu ý rằng : Tứ trụ lấy sự trung hoà làm quý , vật đầy tất sẽ tràn , thái quá cũng ko tốt và bất cập thì càng ko nên ( thái quá là ngũ hành vượng quá mà còn được sinh thêm , còn bất cập là ngũ hành đã yêú mà còn bị khắc chế ) .
THẦN VÀ SÁT TRONG TỨ TRỤ :
1/ THIÊN ẤT QUÝ NHÂN
thiên ất là thần hoá giải cát hung của mệnh , nếu vận hạn đang gặp xấu mà tỏng mệnh có thiên ất thì cái xấu sẽ giảm nhẹ . trong mệnh có nhiều thiên ất là người nhân từ , ít gặp điều xấu xaỷ ra . Lấy thiên can của năm và của ngày để tìm ra thiên ất . người sinh ngaỳ hoặc năm Giáp , Mậu , trong tứ trụ có địa chi sửu , muì là có thiên ất .
Người sinh ngày và năm Ất , Kỷ , trong tứ trụ có tý , thân là có thiên ất
Bính , Đinh gặp hợi , dậu là thiên ất
Nhâm , Quý gặp tỵ , mão là thiên ất
Canh , Tân gặp dần , ngọ là thiên ất
2/ THIÊN ĐỨC QUÝ NHÂN
Thiên đức là thần hộ mệnh , ai có nó thì cuộc đời ít gặp nguy hiểm , cũng tương tự như thiên ất .
Sinh tháng 1 thấy đinh , 2 thấy thân , 3 thấy nhâm , 4 thấy tân , 5 thấy hợi , 6 thấy giáp 7 thấy quý , 8 thấy dần , 9 thấy bính , 10 thâý ất , 11 thấy tỵ , 12 thấy canh . đó là thiên đức
3/ NGUYỆT ĐỨC
sinh tháng dần ngọ tuất thấy bính
sinh tháng thân tý thìn thấy nhâm
sinh tháng hợi mão mùi thấy giáp
sinh tháng tỵ dậu sưủ thấy canh
4/ TAM KỲ QUÝ NHÂN :
Tam kỳ chủ về người có kỳ tài đặc biệt , người nào có tam kỳ thì tinh thần người đó khác thường , hoài bão to lớn , thích to tát , biết rộng , nhiều tài
Trong mệnh gặp những thiên can như sau là có tam kỳ :
thiên kỳ : giáp mậu canh
địa kỳ : ất bính đinh
nhân kỳ : nhâm quý tân
trong năm tháng ngày giờ sinh gặp 3 thiên can như trên là có tam kỳ
5/TRẠCH MÃ :
sao này chủ về người có công việc lưu động , dễ đi ra nước ngoài , nếu vận gặp sao này thì trong vòng 10 năm di chuyển liên tục , thay đổi chỗ ở
người mà ngaỳ và năm sinh có địa chi là : thân , tý , thìn gặp dần là mã . Ví dụ người sinh ngày thân gặp tháng hoặc giờ dần thì người đó có sao mã
dần ngọ tuất mã ở thân
tỵ dậu sửu mã ở hợi
hợi mão mùi mã ở tỵ
6/ HOA CÁI :
sao hoa cái là sao hợp với thần linh , hội họa , âm nhạc . người có sao này chủ về thông minh , tài hoa nhưng tính tình cao ngạo , mệnh có sao hoa caí nhiêù quá chủ về đi tu , tâm thần bất an
Người sinh năm hoặc ngaỳ : dần , ngọ , tuất thấy tuất là có hoa cái
người sinh năm hoặc ngày hợi mão mùi thấy mùi là có sao hoa cái
người sinh thân tý thìn thấy thìn là có hoa cái
người sinh tỵ dậu sửu thấy sửu là có sao hoa cái
7/ĐÀO HOA
đào hoa chủ về đẹp , kheó tay , người mà tứ trụ gặp sao này thì không những bản thân đẹp mà người thân cũng đẹp , nhưng sao này chủ về quan hệ bất chính , tình cảm không thuận
thân tý thìn thấy dậu là đào hoa ( lấy năm và ngày sinh để tra )
tỵ dậu sửu thấy ngọ là đào hoa
dần ngọ tuất thấy mão là đào hoa
hợi mão mùi thấy tí là đào hoa
8/KÌNH DƯƠNG
SAO NÀY CHỦ VỀ MÁU ME , tai nạn , vận gặp kình dương thì dễ gặp bị thương hoặc mất mạng
Lấy thiên can của ngày sinh làm chuẩn để tính
ngaỳ giáp thấy mão là kình dương , ất thấy dần , bính mậu thấy ngọ , đinh kỳ thấy tỵ , canh thấy dậu , tân thấy thân , nhậm thấy tí , quý thấy hợi
còn rất nhiều thần và sát nhưng trong thực tế thì những thần mà tôi liệt kê ra là có tác dụng , còn những thần sát khác không có ý nghĩa gì nên tôi ko liệt kê ra .

(Theo Minh Quân)

 

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Phong thủy:

Bói toán:

Xem tướng:

 

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay