|
Khoa Tử Vi Đời Trần
| |
=== |
|
| |
Vua Anh-tông tâu rằng:
- Thần nhi nghe nói căn cứ vào khoa Tử-vi có thể cải được số mạng. Thỉnh cầu phụ hoàng có cách nào cứu được Đoàn tiên sinh không?
Thượng-hoàng bèn xé từ bìa kinh Kim-cương viết mấy chữ Tứ đại giai không, miễn tử trao cho Đoàn Nhữ Hài. Tứ đại Giai không là chữ lấy trong kinh Kim-cương:
“Vô nhân tướng, Vô ngã tướng, Vô chúng sinh tướng, Vô thọ giả tướng, tứ đại giai
không”. Nghĩa là không có hình tượng của người, của ta, của chúng sinh, không có cái gì lâu dài cả. Bốn cái đó đều là hư ảo..
Thượng-hoàng phán:
- Ta xem số thấy cái vạ vì má đào của tiên sinh sắp tới. Nay ta trao cho tiên sinh mảnh giấy này, khi bị nạn, có thể dùng nó để cứu mạng. Muốn giải cái nạn Hồng, Đào, Hình, Tham thì phải dùng đến Quyền. Nay ta viết chữ miễn tử tức là dùng Quyền rồi, phụ với Hóa-quyền đóng chung ở Tham-lang nữa. Muốn giải hạn Thiên-hình thì dùng đến Không-vong. Ta dùng bìa cuốn kinh Kim-cương, tức là dùng cái Không của đạo Phật. Như vậy mong có thể cứu được tiên sinh.
=== |
|
|
| |
1/- Trường hợp được trọng dụng :
Khoa Tử-vi được triều Trần biết đến trong
một dịp đặt biệt: Thái-tử Hoảng bị bệnh mê
man suốt ba ngày rồi mắt trợn ngược, tưởng
qua đời. Vua đem thanh Thượng-phương bảo
kiếm và áo Ngự-bào để bên cạnh rồi tuyên
chỉ ;
- Nếu tỉnh dậy sẽ ban cho. Ý nói sẽ truyền
ngôi. Nhưng Thái-tử mắt vẫn trợn ngược.
Hoàng hậu, phi tần khóc lóc thảm thiết,
chuẩn bị chôn cất, nhân thấy Huệ-Túc phu
nhân văn hay chữ tốt, có ý nhờ viết bài vị.
Vì vậy phu nhân biết ngày, giờ, tháng, năm
sinh của Thái-tử. Phu nhân bấm số, rồi tâu
:
- Xin Hoàng-hậu đừng lo, Thái-tử chỉ mê man
thôi, giờ Sửu ngày mai sẽ tỉnh dậy. Vua và
Hoàng-hậu tin tưởng và hỏi tại sao phu nhân
biết? Phu nhân tâu:
- Thần tính số Tử-vi của Thái-tử thấy Đồng,
Âm thủ mệnh tại Tý. Cung phúc tại Dần có
Cự, Nhật. Tử-vi kinh nói rằng:
“ Phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ,
Do ư phúc trạch cát hung”.
Nghĩa là : Giàu, sống lâu, làm lớn, tiếng
tăm, chết non, đau thương, khổ, do cung
phúc tốt hay xấu. Đây cung Phúc của Thái-tử
có Cự, Nhật tại Dần, lại có Tả, Hữu, Xương,
Khúc hợp chiếu, thì căn cơ là người thọ
lắm. Mệnh lại được Đồng, Âm tại Tý... thế
thì Thái tử không chết non, sau còn trở
thành vị minh quân anh hùng, tạo sự nghiệp
rạng rỡ cho họ Đông-a và cho nhà Đại-Việt
nữa. Hiện Thái-tử bị hạn Tang, Hổ, Kiếp,
Hình thì đau yếu nặng đó thôi.
Vua và Hoàng-hậu còn phân vân chờ đến giờ
Sửu hôm sau, thì Thái-tử tỉnh dần, rồi khỏi
hẳn. Sau là vua Trần Thánh-tông, một vị vua
anh hùng trong lịch sử Đại-Việt. Nhân đó
vua Thái-tông mới hỏi lý do tại sao phu
nhân biết, phu nhân mới trình bày khoa
Tử-vi. Vua Thái-tông triệu Hoàng Bính vào
cung, tiên sinh dâng lên hai bộ sách Tử vi
chính nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi
kinh. Vua Thái tông và hoàng tộc nhà Trần
lại đua nhau nghiên cứu Tử-vi, và dùng như
một nguyên tắc để cử người giúp nước.
2/- Một sự kiện sáng tỏ nhờ Tử-vi :
Qua những lá số được Huệ-Túc phu nhân và
vương hầu đời Trần chấm còn để lại, ngày
nay chúng ta thấy được nhiều khía cạnh lịch
sử. Như hiện trong văn học sử, người ta
không biết vị thiền sư đắc đạo Tuệ-Trung
thượng sĩ đời Trần, bản sư của Trần
Nhân-tông là Trần Quốc Tung, anh ruột Hưng
Đạo vương Trần Quốc Tuấn, tước phong
Hưng-Ninh vương hay là Hưng Nhượng vương
Trần Quốc Tảng, con thứ nhì của Hưng Đạo
vương?
Căn cứ vào lá số của Huệ-Túc phu nhân,
người sống đồng thời với Hưng Ninh vương,
lại là thím của ngài, là sư phụ của ngài về
khoa Tử-vi, thì những gì do phu nhân viết
về ngài phải đúng. Hơn nữa phu nhân lại là
người tích cực tiến cử Hưng Đạo Vương giữ
chức vụ Tiết-chế binh mã, tức là Tổng tư
lệnh quân đội, thì chắc chắn tình nghĩa
thím cháu, vua tôi, thầy trò, phu nhân viết
về gia đình Hưng Ninh Vương, Hưng Đạo vương
không sai. Phu nhân chấm số cho Hưng-Ninh
vương có phê như sau:
"... Kinh vân Tử, Tham, Mão Dậu đa vi thoát
tục chi tăng. Ngô kim nhật kiến Tuệ Trung
chi số: Tử, Tham ư Dậu ngộ Quyền, Đào, tuấn
nhã chi lang. Tả, Hữu hợp chiếu thị tất đa
tài, đa năng. Đãn hiềm Tử, Tham cư Dậu ngộ
Không, Kî tất thoát tục vi tăng”. Nghĩa là
sách Tử-vi kinh nói rằng: người mệnh lập
tại Dậu hay Mão, mà có Tử-vi, Tham lang thủ
mệnh đa số là người thoát tục đi tu. Nay ta
xem số của Tuệ Trung thì thấy mệnh lập tại
Dậu, Tử-vi, Tham-lang thủ mệnh, còn gặp
Đào-hoa, Hóa-quyền thì là người đẹp đẽ.
Được Tả, Hữu hợp chiếu thì là người đa tài,
đa năng. Nhưng tiếc rằng cái số và mệnh lập
tại Dậu, Tử-vi, Tham-lang thủ mệnh,gặp
Thiên-không, Hóa-kỵ thì thế nào cũng đi
tu."
Từ sự kiện trên ta tìm được Tuệ Trung
thượng sĩ là Hưng-Ninh vương Trần Quốc
Tung, chứ không phải là Trần Quốc Tảng.
3/- Phá cách, trợ cách :
Qua các tài liệu còn lại, thì khoa Tử-vi
đời Trần có một sắc thái đặc biệt hơn ở
Trung-quốc, đó là Phá cách và Trợ cách. Câu
chuyện Đoàn Nhữ Hài là một bằng cớ. Nếu
Tống Thái-tổ biết Trịnh Ân bị nạn mà cứu
không được, thì vua Trần Nhân-Tông biết
Đoàn Nhữ Hài bị nạn mà cứu thoát. Câu
chuyện như sau:
Đoàn Nhữ Hài là học trò trường Quốc-tử giám
ở Thăng-long. Năm 20 tuổi, Hài chuẩn bị để
thi Thái-học sinh (tiến sĩ), muốn được thi
Thái học sinh thì Hài phải qua một kỳ khảo
hạch của trường trước, nếu thấy khá thì mới
được cử đi thi. Một hôm ra chùa Diên hựu
(chùa Một-cột) chơi, thấy vị tăng ngồi nhìn
trời, Hài hỏi:
- Bạch hòa thượng, tiểu sinh nghe rằng
người tu hành có thể biết được vận số sau
này sẽ ra sao, có đúng không?
Hòa thượng hỏi:
- Tiên sinh muốn biết điều gì?
- Tiểu sinh muốn biết mai sau hoạn lộ ra
sao. Tiểu sinh mong sư phụ chỉ giáo cho
tương lai.
Hòa thượng hỏi ngày, giờ, tháng, năm sinh
của Hài rồi nói:
- Số của tiên sinh là số tá cửu trùng ư kim
điện, nghĩa là số phò tá vua ở sân rồng,
tức là số làm tới tể tướng. Mệnh lập tại
Mùi, Tả, Hữu thủ mệnh là người đa tài, đa
năng. Tử-vi kinh nói, Tả-phụ, Hữu-bật bình
tính khắc khoan, khắc hậu nên tính tình từ
tốn, hành sự cẩn trọng. Cái cách Nhật tại
Mão, Nguyệt tại Hợi chiếu là cách Nhật,
nguyệt tịnh minh, nên thì sớm gặp minh
quân. Nhưng tiên sinh lại có một cách rất
xấu Đào-hoa, Hồng loan cư nô, lại gặp Hình,
thì tất thế nào cũng vì đàn bà mà tan nát
sự nghiệp, đến phải vong mạng. Đáng tiếc,
đáng tiếc.
Hài mừng lắm trở về lo học hành, tháng sau
trong kỳ thi khảo hạch của trường Quốc-tử
giám, Hài bị trượt vì văn ngông nghênh,
kênh kiệu quá. Hài giận lắm, tìm vị hòa
thượng hỏi:
- Hôm trước đại sư đoán rằng sau này tôi sẽ
làm Tể-tướng, thế sao tôi thi trượt? Không
đậu thì làm sao thi Thái-học sinh được?
Không đậu Thái-học sinh thì sao có thể làm
Tể-tướng?
Vị Hòa-thượng cười đáp:
- Từ xưa đến giờ có biết bao nhiêu vị
Tể-tướng mà không đậu đại khoa? Bần tăng
đoán tiên sinh làm Tể-tướng, chứ có đoán
tiên sinh thi đậu đâu? Này năm nay tiểu hạn
tiên sinh nhập cung Dậu được Thái-dương
miếu địa, Hóa-khoa từ Mão chiếu sang thì
thanh vân đắc lộ gặp được thiên-nhan. Nhưng
đại hạn đóng ở cung Tỵ. Thiên-mã gặp Đà-la
tức là ngựa què. Ngựa đã què lại còn đi đến
cung Dậu gặp Tuần thì ngựa bị chặt cụt
chân. Vậy khi nào tiên sinh gặp ngưạ cắn
hoặc đá là lúc gặp vua, nhưng tiên sinh nhớ
một điều:
Khi được gặp vua, nếu hoàng-thượng ban
thưởng cho bao nhiêu vàng bạc phải nộp cho
lão tăng một nữa. Hài mừng lắm, về nhà,
đúng ngày mà hòa thượng đoán gặp vua, không
thấy linh nghiệm. Hài tìm đến chùa Diên-hựu
để hỏi tội hòa-thượng. Nhưng trên đường đi,
Hài bị một người cỡi ngựa đụng phải, té lăn
vào bụi cỏ. Hài túm lấy dây cương hạch tội:
- Nhà ngươi đi đâu mà có mắt như mù đụng
phải ta?
Người cỡi ngựa, mình chỉ mặc áo lót, mũ đội
phía sau ra trước, nhảy xuống ngựa tạ lỗi:
- Xin lỗi tiên sinh, tôi đi tìm cha tôi để
tạ lỗi. Tiên sinh có biết chữ không? Tôi
muốn nhờ tiên sinh một việc đây!
Hài bực mình nói :
- Ta học trường Quốc-tử giám, sắp thi
Thái-học sinh, thì Bách-gia, Chư-tử,
Cửu-lưu, Tam-giáo đều thông. Sao lại không
biết chữ?
Người cỡi ngựa tiếp:
- Vậy tiên sinh làm dùm tôi bài biểu tạ tội
với cha tôi, tôi sẽ bảo quan Quốc-tử giám
tư nghiệp cho tiên sinh đậu. Năm sau thi
Thái-học sinh tôi sẽ lấy tiên sinh đậu
Trạng nguyên, được chăng?
- Nhà ngươi điên à? Nhà ngươi có biết, chỉ
có một người cho Thái-học sinh đậu
Trạng-nguyên, đó là vua. Nhà ngươi là ai mà
dám nói lớn lối như vậy?
Người kia đáp:
- Tôi là Vua đây.
Đoàn Nhử Hài nhìn lại mũ người đó, quả là
vua, vội thụp xuống đất tạ tội. Người cỡi
ngựa chính là vua Trần Anh-tông. Nguyên sau
khi chiến thắng Mông-cổ, năm 1293 vua Trần
Nhân-tông nhường ngôi cho con là vua Trần
Anh-Tông rồi đi tu. Vua Anh-Tông thường hay
rượu chè say sưa. Nhân một hôm uống rượu
Xương-bồ say quá nằm ngủ, thì Thượng-hoàng
từ Thiên-trường về Thăng-long. Các quan
trong triều không ai biết cả. Nhân-Tông
thong thả xem cung điện từ giờ Thìn đến giờ
Tỵ. Thái-giám dâng cơm. Thượng-hoàng không
thấy vua đâu hỏi thái-giám. Thái-giám đánh
thức vua dậy, nhưng vua say quá không tỉnh
được. Thượng-hoàng giận quá bỏ về, lệnh cho
các quan về Thiên trường họp, có ý truất
phế Anh-tông. Đến giờ Mùi, Anh-tông mới
tỉnh dậy, cung nhân đem việc ấy tâu. Vua sợ
quá không kịp mặc áo, nhảy lên ngựa chạy
tới chùa Từ-phúc, thì đụng phải Đoàn Nhữ
Hài. Hai người xuống thuyền về
Thiên-trường. Dọc đường Đoàn Nhữ Hài làm tờ
biểu dài hai ngàn chữ tạ tội. Nhưng
Thượng-hoàng vẫn còn giận, không cho vào.
Hai người phải quỳ ở ngoài. Các quan liếc
mắt nhìn tờ biểu, thấy văn hay, truyền nhau
đọc.
Thượng-hoàng nghe được hỏi:
- Văn ở đâu mà hay như vậy?
Các quan tâu rằng đó là bài biểu tạ tội của
vua. Thượng-hoàng truyền:
- Đưa vào đây!
Ý ngài muốn nói rằng đưa bài biểu vào,
nhưng các quan hiểu lầm đưa cả Vua và Đoàn
Nhử Hài vào. Thượng-hoàng thấy sự đã rồi,
đành tiếp biểu xem, thấy lời văn điêu
luyện, thống thiết, bèn xá tội cho vua
Anh-Tông. Ngài phán rằng:
- Ta đang cần một thiếu niên anh tài phụ tá
cho con ta. Nay gặp tiên sinh ở đây
thực là may mắn. Hài trình việc gặp hòa
thượng ở chùa Diên-hựu, được hòa thượng
đoán trước sự việc. Thượng-hoàng phán:
- Khoa Tử-vi do Hoàng Bính truyền sang
Đại-Việt, khoa này đâu có truyền ra ngoài
dân dã? Hòa thượng xem Tử-vi cho tiên sinh
đó là sư phụ của ta, tức Tuệ-Trung
Thượng-sĩ đó (tức Trần Quốc Tung).
Hài nghe xong hoảng sợ, nghĩ hôm trước nếu
mình gây với hòa thượng thì bị ốm đòn rồi.
Bởi Tuệ-Trung là một võ học danh gia đời
Trần. Thượng-hoàng hỏi số của Hài, rồi
phán:
- Số của tiên sinh là số của bậc tể thần.
Sau này làm nên sự nghiệp hiển hách. Nhưng
tiếc rằng Đào, Hồng cư Nô, thì thế nào cũng
xảy ra một chuyện bất chính trong tình
trường, lại thêm Tham, Hình nữa thì thế nào
cũng vì má đào mà sự nghiệp tan vỡ, chết vì
nghiệp tình, đáng tiếc thay.
Vua Anh-tông tâu rằng:
- Thần nhi nghe nói căn cứ vào khoa Tử-vi
có thể cải được số mạng. Thỉnh cầu phụ
hoàng có cách nào cứu được Đoàn tiên sinh
không?
Thượng-hoàng bèn xé từ bìa kinh Kim-cương
viết mấy chữ Tứ đại giai không, miễn tử
trao cho Đoàn Nhữ Hài. Tứ đại Giai không là
chữ lấy trong kinh Kim-cương:
“Vô nhân tướng, Vô ngã tướng, Vô chúng sinh
tướng, Vô thọ giả tướng, tứ đại giai
không”. Nghĩa là không có hình tượng của
người, của ta, của chúng sinh, không có cái
gì lâu dài cả. Bốn cái đó đều là hư ảo..
Thượng-hoàng phán:
- Ta xem số thấy cái vạ vì má đào của tiên
sinh sắp tới. Nay ta trao cho tiên sinh
mảnh giấy này, khi bị nạn, có thể dùng nó
để cứu mạng. Muốn giải cái nạn Hồng, Đào,
Hình, Tham thì phải dùng đến Quyền. Nay ta
viết chữ miễn tử tức là dùng Quyền rồi, phụ
với Hóa-quyền đóng chung ở Tham-lang nữa.
Muốn giải hạn Thiên-hình thì dùng đến
Không-vong. Ta dùng bìa cuốn kinh
Kim-cương, tức là dùng cái Không của đạo
Phật. Như vậy mong có thể cứu được tiên
sinh.
Trở về Thăng-long, vua Anh-Tông phong cho
Đoàn Nhữ Hài làm Ngự-sử trung tán, đây là
lần đầu tiên một người không đậu đạt gì,
mới 20 tuổi được phong làm Ngự-sử trung
tán. Người thời đó ghanh ghét làm thơ giễu
Hài như sau:
Phong hiến luận đàm truyền cổ ngữ, Khẩu tồn
nhũ xú Đoàn trung tán. Có nghĩa là: Ôn câu
cổ ngữ tại đài Ngự sử. Miệng của Trung-tán
Đoàn Nhữ Hài còn hôi sữa.
Ba năm sau hạn của Đoàn Nhữ Hài qua cung Tý
gặp Đào, Tham, Quyền, Hồng và Thiên-thương,
triều đình khám phá ra mối tình của Đoàn
Nhữ Hài với một cung nữ của vua Anh-Tông.
Luật triều Trần rất khắt khe với tội ngoại
tình. Ngay với thường dân khi ngoại tình
xảy ra, gian phu bị tử hình, dâm phụ tùy
người chồng tha hay không. Nay tội đó xảy
ra giữa một đại thần với một cung nữ. Nên
cả hai bị khép tội chém đầu. May nhờ có thủ
bút của Thượng hoàng, viết trên bìa cuốn
kinh Kim-cương nên cả hai được miễn tử. Vua
Anh- Tông truyền gả cung nữ cho Đoàn Nhữ
Hài.
Đoạn trên đây chúng tôi tóm lược trong sách
Đông-a di sự, phần Đoàn Nhữ Hài liệt
truyện.
4/- Tinh hoa khoa Tử-vi đời Trần :
Hầu hết những bậc vua chúa, vương hầu nhà
Trần đều nghiên cứu Tử-vi, để làm chìa khóa
biết kẻ trung, người nịnh, biết vận hạn,
mưu đồ đại sự.
Như khi triều đình phân vân không biết nên
hòa với Mông-cổ, cho Mông-cổ mượn đường
đánh Chiêm-thành, hay nhất định chống lại,
vua Thái-tông do dự không quyết, Huệ- Túc
phu nhân chấm số cho tất cả vua, hoàng-hậu,
vương hầu, tướng sĩ, thấy đa số là những vĩ
nhân, làm nên những chuyện kinh thiên động
địa. Có một số bị chết thảm nhưng tiếng tăm
vang dậy. Phu nhân quyết định rằng: nên
đánh. Bởi đánh thì sẽ thắng, có thắng các
vương hầu mới có sự nghiệp vĩ đại như vậy.
Một vài người tuy tuẫn quốc thật nhưng danh
thơm muôn thuở.
Có ai ngờ việc quyết định vận số quốc gia
như thế, mà do khoa Tử-vi chiếm một phần.
Khoa Tử-vi đời Trần cũng dựa theo bộ Tử-vi
chính nghĩa, rồi nghiên cứu rộng ra về phá
cách và trợ cách. Tỷ dụ, Tử-vi kinh nói
rằng :
Thiên-hình, Thất-sát cương táo nhi cô.
Nghĩa là, người có thiên-hình, Thất-sát thủ
mệnh thì tính tình nóng nảy, cứng rắn quá
mà hóa cô độc. Muốn khuyên răn, chế ngự bớt
sự cuồng táo đó, phải dùng người mệnh có
Thái-dương, Thiên-đồng, Thiên-lương,
Văn-xương, Văn-khúc, Đào-hoa, Hồng-loan.
Bởi các sao này có thể giảm bớt sức nóng
nảy của Hình, Sát. Tuyệt đối không dùng
người mệnh có Kiếp, Không, Kình, Đà, Tang,
Hổ đã đành mà còn tránh dùng người có
Tử-vi, Thiên-phủ, bởi Tử, Phủ kỵ Hình, Sát.
Như muốn phá người mệnh có Tử, Phủ thì dùng
người có Kiếp, Không, Kỵ, Hình thủ mệnh.
Tử, Phủ thì ngay thẳng, Kiếp, Không thì
gian trá, tiểu nhân vậy dùng những mánh lới
hạ cấp sẽ làm cho người Tử, Phủ khốn khổ
v.v.... Khoa Tử-vi còn đi sâu hơn nữa. Như
người có cung Phúc tại Thìn được Thái-dương
tọa thủ, tức là được hưởng phúc ngôi mộ ông
hoặc bố.
DNTS ST |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|