1. Biết trước
được tương lai, biết trước vài tháng (ví dụ) có
họa tới cho các trẻ có cứu được trẻ không ?
2. Nhận định
về Tử vi: Các sao trong Tử Vi chỉ là các tên gọi
tượng trưng, mượn tên một vật thể để mệnh danh một
yếu tố trong con ngườị Các sao trong Tử Vi là
những danh từ chỉ mức năng lượng trong cơ thể con
người và chu kỳ họat động của nó, qua đó phân tích
con người thành những yếu tố nhỏ rồi hợp lạị
Giá trị của khoa Tử Vi mang tính chất nhân văn
nhiều hơn, thông qua dự đoán để định hướng con
người nhằm đóng góp tốt hơn khả năng bản thân cho
gia đình và xã hội, nó không phải mê tín mà là một
khoa học nhân văn chân chính phục vụ cho chính bản
thân con người.
[9/2011]
Luận Tham Vũ đồng hành
(theo tuetvnb)
Trong Tử vi, thuật ngữ CÁCH CỤC
được đưa lên hành đâu, chiếm vai trò rất quan
trọng trong giải đoán. Hi Di tổ sư đã viết trong
cốt tủy phú:
“Tiên minh cách cục, thứ khán chúng tinh”
Trước hết phải xem xét rõ ràng cáchc cục, rồi sau
mới xem đến các chúng tinh khác.
Bởi vậy khi giải đoán tử vi, cần phải nắm rõ cách
cục của lá số thì mới có được cái nhìn toàn cảnh.
Trong bài viết này, tôi phụ luận thêm về cách THAM
VŨ ĐỒNG HÀNH.
Tham Vũ đồng hành, có nghĩa khi Tham Lang Vũ Khúc
cùng đi với nhau (đồng hành). Theo các an sao,
Tham Lang và Vũ Khúc chỉ có thể “đồng hành” trong
4 cung tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi. Trong đó tại Sửu
Mùi thì đồng cung là Chính cách, tại Thìn Tuất thì
đối cung là Bàng cách.
Trước hết, để nghiên cứu cách này, cần phải tìm
hiểu về đặc tính của sao Tham Lang và Vũ Khúc.
Sao Tham Lang:
La Hồng Tiên viết trong đẩu số toàn thư:
“…Tham Lang thuộc hành thuỷ, Bắc Đẩu tinh giải ách
chi thần. Hoá khí sao này là Đào Hoa, ưa cao ngâm
phiêu lãng, khôn khéo thật khôn khéo mà vụng dại
cũng thật vụng dại. Ơ miếu địa có thể vừa tạo phúc
vừa gây hoạ.
Hội cùng Phá Quân thành ra mê hoa mến tửu mà táng
mạng, cùng Lộc Tồn tốt lành, hội Song Hao mọi việc
thành hư hoa bố láo, gặp Liêm Trinh hãm địa tù tội,
thấy Thất Sát dễ bị tai nạn quan tụng.
Dương Đà xung phá có bệnh trĩ, Hình Kị xung phá
nhiều vết thương, vết sẹo. Tham Lang thủ Thân mệnh
cung con trai đa tình, con gái lẳng lơ. Đa số có
tính ngôn quá kỳ thực, chơi với ai cần trung hậu
thì dở thói bạc bẽo, với kẻ đáng lý bạc bẽo được
thì lại trung hậu.
Sách có câu : Thất Sát thủ thân chung thị yểu,
Tham Lang nhập miếu tất vi sương (nghĩa là Thất
Sát thủ Thân thường chết yểu Tham Lang nhập miếu,
con gái dễ bị giang hồ). Nếu các cung Thân - Mệnh
có Phá Quân đồng cư (Tham ở Mệnh, Phá ở Thân hoặc
ngược lại) hoặc từ tam hợp hội tụ dù ở sinh vương
địa, đàn ông say sưa, rượu chè cờ bạc, tính khí
ngang ngược, du đãng, đàn bà dâm bôn theo trai đi
hoang, nặng căn số có thể rơi vào lầu xanh.
Đặt biệt sao Tham Lang mà ngộ Không Vong kết quả
ngược hẳn rất đoan chính.
Tham Lang đồng cư với Vũ Khúc, ích kỷ tham lam,
không có bụng giúp người khác. Đi cặp cùng Thất
Sát là đồ tể. Hội Dương Đà thành con quỉ phong lưu.
Tụ cùng Xương Khúc đa hư thiểu thực. Ở hãm địa
phùng sinh có thể quật khởi một thời kỳ. Duy có đi
với Hoả Linh là phú quí, ở Mệnh hay Tài Bạch rất
hay….”
Về Tham Lang, Hi Di tổ có viết :
“…Tham Lang tinh, Khí thuộc Mộc, Thể thuộc Thuỷ
cho nên hoá khí là Đào Hoa, chủ hoạ phúc chi thần.
Ở số mệnh ưa phóng đãng, gặp cát tinh thì chủ phú
quí, gặp hung tinh chủ hư hoa (khoác lác). Tính
tình cương mãnh, có mưu cơ, bồng bềnh chìm nổi,
yêu ghét khó lường, thân hình thấp, da trắng. Cư
miếu địa ngộ Hoả Linh tinh vũ chức quyền quí. Khi
hãm địa thường ưa chuyện thần tiên ca vịnh, người
tuổi Mậu - Kỷ hợp cục gặp Quân- Tướng thêm trường
thọ. Bị Phá Sát xung hãm phiêu bồng. Số đàn bà
thường bất khiết trinh…”
Nhiều người thắc mắc không biết Tham Lang thuộc
Mộc hay thuộc Thủy?
Trong Đẩu số toàn thư của HiDi tổ viết : "Tham
Lang Khí thuộc Mộc, Thể thuộc Thủy, Hóa khí vi Đào
Hoa, Chủ Họa Phúc chi thần..." Nghĩa là Tham lang
Thuộc Thủy, hóa Khí thuộc Mộc, là Đào Hoa chi tinh
(dâm tinh). Cho nên nếu Tử Vi gặp Tham lang là
cách "Đào Hoa phạm chủ", hay Tham lang cư Tý Hợi
là cách "Phiếm thủy Đào Hoa". tức là Tham lang là
một hóa thân của sao Đào Hoa, nó là sao lưỡng tính
vừa Thủy, vừa Mộc. Trong Tử Vi, có ba sao mang
tính chất Đào Hoa :
- Đào Hoa
- Tham Lang
- Liêm Trinh (Liêm trinh chỉ khi nào nhập mệnh mới
được gọi là Đào Hoa, còn tử vi VN có 1 sao là sao
Đào hoa thì ở đâu cũng vẫn là...Đào Hoa).
Sao Vũ Khúc:
La Hồng Tiên viết trong đẩu số toàn thư:
“…Vũ Khúc là sao thứ sáu trong chòm Bắc Đẩu, thuộc
Kim, chủ về tiền bạc ở cung Tài Bạch, đồng cung
với Thiên Phủ là thọ. Tính khí quả quyết, cương
nghị, hỉ nộ đều có, phúc lộc dễ mà tai ương cũng
dễ. Được lộc Mã hội tụ thì tiền bạc nhiều. Hãm địa
gặp sao Tham Lang đi cặp trở nên người khó chơi,
tham lam, bủn xỉn. Hội cùng Phá Quân, tiền đến tay
là hết. Gặp hung tinh hội tụ thì tác hoạ, gặp cát
tinh hội tụ tốt lành…”
Về Vũ Khúc, Hi Di tổ có viết :
“….Vũ Khúc thuộc hành kim, trên trời coi về tuổi
tho, vào số người chủ quản tài bạch, rất sợ bị
kiềm chế lạc hãm. Rất cần Lộc Tồn và ưa Thái Am,
lấy hai sao Thiên Phủ, Thiên Lương làm trợ lực.
Gặp Lộc Mã thì phát tài, hội cùng Tham Lang thiếu
niên bất lợi. Nếu đồng cung Thất Sát, Hoả Tinh vì
tiền bạc mà bị hại. Ngộ Dương Đà thì cô khắc. Gặp
Phá Quân khó bề hiển đạt. Vũ Khúc thủ mệnh là
người cương cường quả đoán, tuổi Giáp, tuổi Kỷ
phúc hậu, xuất tướng nhập tướng. Nữ mệnh có nhiều
cát tinh là mệnh phụ, bị xung phá tất cô khắc…”
Cách Tham Vũ đồng hành:
Vì các đặc tính như trên, cho nên khi kết hợp với
nhau, do tính chất khắc chế nên thường là lúc
thiếu niên chịu nhiều vất vả. Gặp cách này là
người tất tả ngược xuôi, cô qủa. Đây là mẫu người
năng động, kỹ càng, rất có lợi về thương nghiệp.
Nhưng không lúc nào được an nhàn, may chăng về
cuối đời mới có thể yên vị.
Đặc biệt Tham Vũ đồng hành tại Tứ Mộ, rất cần gặp
hai sao Hỏa Linh để trợ cách, gặp hai sao này thì
rất dễ thành công lớn trong cuộc đời. Tuy vậy
trong cách này cũng cần phân biệt, rõ ràng mới
luận đoán được sâu hơn, căn cứ vào các lời giải
đoán của cổ nhân:
- Tham Vũ tiền bần nhi hậu phú (Tham Vũ nhập mệnh,
trước nghèo, sau giàu)
- Tham Hỏa tương phùng, phú ông chi cách (Tham
lang gặp Hỏa tinh là cách Phú ông giàu có)
- Tham Linh tịnh thủ, tướng tướng chi danh. (có
Tham Lang ngộ Linh tinh, làm tướng nổi danh)
- Tham Vũ đồng hành, vãn cảnh biên di thần phục. (lưu
danh ngoài biên ải để cho láng giềng phải khuất
phục, nhưng muộn màng)
- Tham lang Ngộ Hỏa tinh, cư miếu vượng, danh chấn
chư bang. (võ nghiệp hiển đạt, lưu danh nơi biên
ải, uy danh chấn động các nước láng giềng)
Người Tham Vũ đồng hành không hẳn chỉ là thành
công trong thương trường, mà trong lĩnh vực quân
đội, chỉ huy, cũng rất thành công.
Tham Lang khi miếu vượng rất cần sự trợ giúp của
Hỏa, Linh. Khi Tham gặp Hỏa là cách "Tham Hỏa
Tương Phùng", sẽ giầu có. Nhưng Khi Tham gặp Linh
sẽ là cách "Tham Linh tịnh thủ". đây là cách hiển
đạt về võ nghiệp.
Nếu Tham gặp cả hai sao Hỏa Linh thì sao? - Sẽ là
"hào phú gia tư, hấu bá quý" có cả phú lẫn quý.
Khi Tham lang đi với Vũ khúc, chế hóa lẫn nhau mà
làm thành cách "tiền bần hậu phú".
Tổng kết lại :
1. Tham + Vũ + Hỏa : tiền vận nghèo, vất vả, nhưng
sau trung vận sẽ phát phú, giầu có. Đây là đệ nhất
cách Doanh thương.
2. Nếu Tham + Vũ + Linh : Tiền vận lao đao, Nam
chinh Bắc chiến, ngược xuôi bôn ba. Trung vận nổi
danh, nhưng dù nổi danh vân không tránh khỏi vất
vả. Đây là cách Binh gia, anh hùng biên ải.
3. Nếu Tham + Vũ + Hỏa + Linh : Có hai mẫu người :
- Thứ nhất : Mẫu người thành công nhờ doanh thương
: Tiền vận lao đao, nghèo, vất vả. thường là quân
nhân hay theo binh nghiệp. Trung vận có thay đổi
chuyển hướng, chuyện làm ăn phấn phát mà trở nên
giầu có.
- Thứ hai : Mẫu người thành công nhờ Binh nghiệp :
tiền vận bôn bao lao toái, chinh chiến ngược xuôi,
Trung vận nổi danh nhưng vất vả, Hậu vận Phú Quý
gồm hai. Giàu có uy danh đủ cả. Tất nhiên, thời
đại này, việc chinh chiến vốn ít có, Binh nghiệp
có thể hiểu là không cứ phải là quân nhân, nhưng
là một công việc gì đó mang tính chất giồng như
Binh nghiệp.
====
Luận
Mệnh Thân
Biểu Lý Tính Mệnh:
Ta thường nói Tính Mệnh, vậy ảnh hưởng ở các địa
vật là Tính và thụ bẩm ở thiên can trời phú là
Mệnh nên lập Mệnh để biết thọ yểu.
Mệnh là gốc của 12 cung số cần phải tốt đẹp. Ví
như cây kia gốc rễ có to lớn bền chặt mới không sợ
gió bão, và mới sinh được hoa thơm quả ngọt. Có
thể cây kia to lớn xanh tốt, lại sinh hoa quả xấu,
ví như Mệnh và Thân, nếu mạnh tốt Thân xấu là Mạnh
cường Thân nhược thời cuộc đời tuy phú quý nhưng
gặp nhiều vận hạn rủi ro. Mệnh xấu Thân tốt là
Mệnh nhược Thân cường, thời cuộc đời tuy phú túc,
có tiền tài nhưng ngu dốt, bệnh hoạn và hình khắc,
ví như loại cây có hoa quả thơm ngọt nhưng gốc rễ
bị hổng, sâu đục chắc không thể nào trường thọ
được.
Nên quan niệm Mệnh Thân là
duyên nợ của mình từ bao kiếp trước, tỷ như thuyết
nhân quả của nhà Phật, nên trong cuộc sống hiện
thực, có bao người giỏi giang, học thức mà vẫn
thất bại.
Trái lại, thiếu chi người khả năng kém mà lại
thành công, hiển đạt; thật là: si tủng ấm á gia
hào phú, trí tuệ thông minh khước thụ bần; bởi ảnh
hưởng phúc đức thiện á từ bao kiếp trước của mình,
cộng với công tội của cha mẹ ông bà kết hợp lại mà
thành cái may mắn, hoặc tai họa của đời mình, nên
ta thường nghe nói: cha ăn mặn con khát nước.
Cung Mệnh có ảnh hưởng chung cuộc sống, nhưng mạnh
mẽ nhất là thời gian nửa cuộc đời trước nên Tử vi
đã phân định, tam thập niên quan mạnh, mà nửa cuộc
đời sau xin xem ở Thân, tam thập niên hậu khán
thân.
Thân tương quan Mệnh:
Thân là kết quả chịu trực tiếp các đức tính, các
công, nghiệp của Mệnh mà thành, nên Mệnh là nhân
và thân là quả của Mệnh. Mệnh chi phối toàn cuộc
đời, lại gồm thêm sự thọ yểu mà Thân chỉ có nửa
đời sau, nên Mệnh quan trọng hơn Thân nhiều, không
thể nói mạnh hảo bất như thân hảo được.
Thân hảo tuy có làm nên nhưng nếu mạnh yểu vong
thời cũng là bỏ đi vậy. Cũng như Thân hảo bất như
Hạn hảo thời nên luận xét Hạn là thời vận, mà Mệnh
Thân gốc rễ; đã được phú quý rồi, nếu Thân Mệnh
xấu dù có gặp được hạn tốt nữa, cũng chỉ như cơn
mưa mát mặt dễ chịu lúc ấy thôi, sau phải bại vong
ngay, vì Mệnh Thân xấu thời sao giữ được phú quí
lâu dài. Phải lấy
Mệnh là chủ, luận với Thân cũng như Mệnh Thân với
Phúc đức vậy.
Phúc Đức liên hệ Mệnh Thân:
Ta thường nói cung Phúc Đức là tối trọng, Phúc Đức
đẹp mới làm nên được, nếu Phúc Đức xấu là xấu.
Định luật này đúng với các môn học khác vì Phúc
Đức và các cung khác không có tuyến định phân rõ
ràng, riêng ở Tử vi thời Phúc Đức 1 cung, Mệnh 1
cung, Thân cư cung nào luận Thân ở cung ấy, đã có
giới hạn rõ ràng, không thể áp dụng như các môn
học khác được.
Mệnh Thân phải tốt mới làm nên được, nếu Mệnh Thân
xấu thời không làm nên phú quý hiển đạt được.
Thân cung chỉ để hợp luận với các cung mà thôi,
nếu Phúc Đức tốt thời tăng thêm, xấu sẽ bị chiết
giảm.
Phúc cung để khán cả một đại gia tộc, tam tứ đại
và tương lai các con cháu sau này manh nha ở các
môi trường phúc, thiện, hung, trong cung Phúc Đức
mà chịu liên hệ cũng như Mệnh Thân chịu chung ảnh
hưởng của Phúc cung.
Nếu nói sóng trước đổ đâu, sóng sau
đổ đấy là phúc đức hệ lụy từ bao kiếp trước cùng
với phúc ấm tổ tiên là nhân của Mệnh thời do thiện
ác đã kết hợp nên Mệnh xấu hay tốt rồi.
Nên Mệnh tốt là kết quả của phúc
ấm tốt mà phúc bạc thời hẳn Mệnh sẽ xấu.
Mệnh Thân xấu là hiển nhiên phúc
ấm lưu truyền xấu nên không thể hiển đạt được.
Mệnh Thân tốt là kết quả của phúc
đức tốt kết hợp lại nên sẽ được thịnh vượng.
Biểu lý Phúc cung:
Thí dụ: Con 1 nhà quyền quí, có họ hàng nhiều
người làm nên danh phận, trí khôn ngu muội, tuy
học hành không thành, ra đời không chức tước nhưng
được nhờ của cải hi lu li của cha mẹ và họ hàng mà
được ấm thân thời lá số sẽ hiện ra Cung Thân xấu
mà Phúc cung tốt đẹp; trái lại một người con nhà
nghèo, ra đời công thành danh toại, vì có cung
Mệnh Thân tốt đẹp mới làm nên được nhưng cung Phúc
đâu có đẹp hoàn toàn, Các cung Tử-đức, Huynh-đệ,
Phụ-mẫu, Mệnh Thân thời nên hiệp ảnh hưởng cung
Phúc lại mà luận xét.
Nếu thấy phúc tốt thời vì như có
sẵn duyên phứơc căn bản để tăng tiến thêm sự tốt
đẹp, riêng Mệnh Thân nếu xấu thời chỉ y thực túc
hỷ mà thôi, không thể quý hiển được.
Nếu đã hiểu tiên tích đức nhi hậu tầm long thời ăn
ở lấy phúc đức làm trọng để sau này hậu duệ được
nở ngành xanh ngọn, không nên tác hung, tác họa mà
sau sẽ tuyệt đường vinh danh hiển tổ.
Truyền tinh liên hệ:
Ở Tử-vi học thường nói sinh đồng niên, nguyệt,
nhật tại sao lại bất đồng phú quý là vì 2 trẻ sinh
đồng giờ tất độ số tinh đẩu như nhau nhưng phải
phối hợp số cha mẹ của 2 trẻ lại để xem.
Đứa trẻ không làm nên, tuy các sao ở cung Mạnh của
nó cũng giống như các sao ở cung Mệnh của đức kia,
nhưng cung Mệnh hay Phúc của nó không có sự truyền
tinh với cung Phúc Mệnh của cha mẹ nó.
Một gia tộc đã vượng phát mấy đời, khi đem các lá
số ra đối chiếu cũng thường thấy các sao cư Phúc
và Mệnh truyền tinh mãi cho nhau, khi thấy các sao
ở Phúc và Mệnh không truyền tinh là dấu hiệu suy
tàn đã tới.
Cũng một định luật, địa-lý gia tại sao hạ la-bàn
khán mộ thạch xong lại biết nam nữ thứ trưởng hay
con út ngành nào phát, ngành nào bại và thường
phát cho toàn thể các tuổi được.
Ở Tử-vi, lá số nào không truyền tinh là bại, trừ
khi thấy có Cát diệu hội triều đẹp hơn so với các
số trong gia đình tất nhiên có sự vượt lên, hay đã
được hưởng phúc mới kết phát vậy.
Tương quan Mệnh và Tài:
Nên luôn luôn coi cung Mệnh là chủ, ví như người
cha trong một gia đình, không thể suy nhược yếu
hèn được. Cũng như một cái hồ nước, có cứng chắc
giầy bền thời chứa quá nhiều thời hồ sẽ bị bể, và
nứơc tràn ra làm dơ bẩn thêm.
Nên Mệnh cường Tài nhượt thường phát phúc.
Nếu Mệnh nhược Tài cường năng chiêu họa.
Vậy tiền tài đến tay chưa chắc là phúc, vì nếu
không đủ tài ba mẫn cán sẽ ngược lại là hạn họa.
Phu-Thê cung:
Cũng như vợ chồng so đôi tuổi, thời phu khắc thê
nghi tài, nghi tử, nghi phú, nghi quý. Mà thê khắc
phu thì nghi bại nghi vong.
Khi nghiên cứu Đẩu-số mới thấy sự huyền diệu, vợ
chồng là duyên kiếp, Thiên-lý ngộ, nếu có sự hòa
hợp bách niên giai lão, lá số tất nhiên có sự
truyền tinh ở cung Phu-Thê.
Nô Bộc:
Các sao ở cung Mệnh dù hung tính hay cát tính cũng
phải tốt đẹp hơn các sao ở cung Nô Bộc thời minh
mới mong điều khiển các gia nhân giúp việc, tuân
hành kỷ luật để phù trì cho nên công nghiệp.
Nếu lấy các sao ở Mệnh yếu hơn cung Nô-Bộc tức là
mình sẽ giúp việc kẻ khác là lý đó vậy.
Điền - Trạch:
Nếu các sao cư ở cung Điền-trạch là Khoa Quyền Lộc,
Thai Tọa, Tả Hữu, là hiển nhiên mình sẽ là gia
nhân cho nhà phú quý, nếu các sao cư ở cung Mệnh
quá yếu.
Như vậy không nên luận cung Điền-trạch tốt lắm mà
lầm lỡ, nếu thấy cung Mệnh yếu.
Phụ-Mẫu:
Ngay như Phụ-mẫu là bậc sinh thành thời các sao
cũng nên yếu hơn cung Mệnh Thân, vì cung Mệnh Thân
là chủ trong 12 cung, nếu xác sao cát diệu cư ở
các cung khác thời còn đâu sao tốt cư ở cung Mệnh
Thân được?
Vả chăng con hơn cha là nhà có phúc, cho nên Mệnh
tốt hơn Phụ-mẫu là điều đáng mừng chớ không đáng
trách, Cung Mệnh phải là chủ thứ đến Thân Quan Tài
không được yếu hơn các cung khác, cũng như Nữ phải
Mạnh Thân Phu là trọng, các cung khác là thứ chi.
Vậy Nam hay Nữ ngoài cung Mệnh Thân Phu Quan Tài
phải đặt cung Tử -tức thành một vần để hiệp thêm
với Phúc-đức mà xét.
Vì cuộc đời tuy có bôn ba lao lực nhưng vẵn niên
con cái thành đạt tất nhiên sẽ được an hưởng lúc
tuổi già.
Tật – Ách cung:
Hơn nữa, cung Tật -ách nên coi là cung Mệnh thứ
hai như bóng với bóng hình, tạo hạnh phúc hay tai
tật cho cả cuộc đời.
Tật – ách là căn cứ để xem đám tang lớn lao ra sao
khi chết, nên có thể phụ luận, mà biết được sự phú
quý có trường tồn không, nếu các sao tượng cho một
cuộc ma chay lớn, cũng là dấu hiệu để biết được sự
quý hiển tới lúc chầu tiên cảnh. Phải căn cứ vào
ngũ - hành của tinh diệu cư Tật -ách mà luận xét
bệnh tật cũng như tính tình thụ bẩm từ từ ngũ hành
vậy.