Trang chính
 Tử vi & Phong thủy
 

Tổng cộng 182 tài liệu

Nhất tướng:

Tử vi Tây Phương:

Tử vi Á Đông:

Luận - Học - Thuật số - Tử vi:

Bảng tra cần thiết:

Tử bình:

Phong thủy:

 
   

- Xa lộ Thời Nay: Thông tin, Giải trí và Đời sống
 

Lưu ý:

1. Biết trước được tương lai, biết trước vài tháng (ví dụ) có họa tới cho các trẻ có cứu được trẻ không ?

2. Nhận định về Tử vi: Các sao trong Tử Vi chỉ là các tên gọi tượng trưng, mượn tên một vật thể để mệnh danh một yếu tố trong con ngườị Các sao trong Tử Vi là những danh từ chỉ mức năng lượng trong cơ thể con người và chu kỳ họat động của nó, qua đó phân tích con người thành những yếu tố nhỏ rồi hợp lạị

Giá trị của khoa Tử Vi mang tính chất nhân văn nhiều hơn, thông qua dự đoán để định hướng con người nhằm đóng góp tốt hơn khả năng bản thân cho gia đình và xã hội, nó không phải mê tín mà là một khoa học nhân văn chân chính phục vụ cho chính bản thân con người.

[9/2011]

Luận Tham Vũ đồng hành    (theo tuetvnb)

Trong Tử vi, thuật ngữ CÁCH CỤC được đưa lên hành đâu, chiếm vai trò rất quan trọng trong giải đoán. Hi Di tổ sư đã viết trong cốt tủy phú:
“Tiên minh cách cục, thứ khán chúng tinh”

Trước hết phải xem xét rõ ràng cáchc cục, rồi sau mới xem đến các chúng tinh khác.

Bởi vậy khi giải đoán tử vi, cần phải nắm rõ cách cục của lá số thì mới có được cái nhìn toàn cảnh. Trong bài viết này, tôi phụ luận thêm về cách THAM VŨ ĐỒNG HÀNH.
Tham Vũ đồng hành, có nghĩa khi Tham Lang Vũ Khúc cùng đi với nhau (đồng hành). Theo các an sao, Tham Lang và Vũ Khúc chỉ có thể “đồng hành” trong 4 cung tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi. Trong đó tại Sửu Mùi thì đồng cung là Chính cách, tại Thìn Tuất thì đối cung là Bàng cách.

Trước hết, để nghiên cứu cách này, cần phải tìm hiểu về đặc tính của sao Tham Lang và Vũ Khúc.

Sao Tham Lang:

La Hồng Tiên viết trong đẩu số toàn thư:
“…Tham Lang thuộc hành thuỷ, Bắc Đẩu tinh giải ách chi thần. Hoá khí sao này là Đào Hoa, ưa cao ngâm phiêu lãng, khôn khéo thật khôn khéo mà vụng dại cũng thật vụng dại. Ơ miếu địa có thể vừa tạo phúc vừa gây hoạ.

Hội cùng Phá Quân thành ra mê hoa mến tửu mà táng mạng, cùng Lộc Tồn tốt lành, hội Song Hao mọi việc thành hư hoa bố láo, gặp Liêm Trinh hãm địa tù tội, thấy Thất Sát dễ bị tai nạn quan tụng.

Dương Đà xung phá có bệnh trĩ, Hình Kị xung phá nhiều vết thương, vết sẹo. Tham Lang thủ Thân mệnh cung con trai đa tình, con gái lẳng lơ. Đa số có tính ngôn quá kỳ thực, chơi với ai cần trung hậu thì dở thói bạc bẽo, với kẻ đáng lý bạc bẽo được thì lại trung hậu.

Sách có câu : Thất Sát thủ thân chung thị yểu, Tham Lang nhập miếu tất vi sương (nghĩa là Thất Sát thủ Thân thường chết yểu Tham Lang nhập miếu, con gái dễ bị giang hồ). Nếu các cung Thân - Mệnh có Phá Quân đồng cư (Tham ở Mệnh, Phá ở Thân hoặc ngược lại) hoặc từ tam hợp hội tụ dù ở sinh vương địa, đàn ông say sưa, rượu chè cờ bạc, tính khí ngang ngược, du đãng, đàn bà dâm bôn theo trai đi hoang, nặng căn số có thể rơi vào lầu xanh.

Đặt biệt sao Tham Lang mà ngộ Không Vong kết quả ngược hẳn rất đoan chính.

Tham Lang đồng cư với Vũ Khúc, ích kỷ tham lam, không có bụng giúp người khác. Đi cặp cùng Thất Sát là đồ tể. Hội Dương Đà thành con quỉ phong lưu. Tụ cùng Xương Khúc đa hư thiểu thực. Ở hãm địa phùng sinh có thể quật khởi một thời kỳ. Duy có đi với Hoả Linh là phú quí, ở Mệnh hay Tài Bạch rất hay….”

Về Tham Lang, Hi Di tổ có viết :
“…Tham Lang tinh, Khí thuộc Mộc, Thể thuộc Thuỷ cho nên hoá khí là Đào Hoa, chủ hoạ phúc chi thần. Ở số mệnh ưa phóng đãng, gặp cát tinh thì chủ phú quí, gặp hung tinh chủ hư hoa (khoác lác). Tính tình cương mãnh, có mưu cơ, bồng bềnh chìm nổi, yêu ghét khó lường, thân hình thấp, da trắng. Cư miếu địa ngộ Hoả Linh tinh vũ chức quyền quí. Khi hãm địa thường ưa chuyện thần tiên ca vịnh, người tuổi Mậu - Kỷ hợp cục gặp Quân- Tướng thêm trường thọ. Bị Phá Sát xung hãm phiêu bồng. Số đàn bà thường bất khiết trinh…”

Nhiều người thắc mắc không biết Tham Lang thuộc Mộc hay thuộc Thủy?
Trong Đẩu số toàn thư của HiDi tổ viết : "Tham Lang Khí thuộc Mộc, Thể thuộc Thủy, Hóa khí vi Đào Hoa, Chủ Họa Phúc chi thần..." Nghĩa là Tham lang Thuộc Thủy, hóa Khí thuộc Mộc, là Đào Hoa chi tinh (dâm tinh). Cho nên nếu Tử Vi gặp Tham lang là cách "Đào Hoa phạm chủ", hay Tham lang cư Tý Hợi là cách "Phiếm thủy Đào Hoa". tức là Tham lang là một hóa thân của sao Đào Hoa, nó là sao lưỡng tính vừa Thủy, vừa Mộc. Trong Tử Vi, có ba sao mang tính chất Đào Hoa :
- Đào Hoa
- Tham Lang
- Liêm Trinh (Liêm trinh chỉ khi nào nhập mệnh mới được gọi là Đào Hoa, còn tử vi VN có 1 sao là sao Đào hoa thì ở đâu cũng vẫn là...Đào Hoa).

Sao Vũ Khúc:

La Hồng Tiên viết trong đẩu số toàn thư:


“…Vũ Khúc là sao thứ sáu trong chòm Bắc Đẩu, thuộc Kim, chủ về tiền bạc ở cung Tài Bạch, đồng cung với Thiên Phủ là thọ. Tính khí quả quyết, cương nghị, hỉ nộ đều có, phúc lộc dễ mà tai ương cũng dễ. Được lộc Mã hội tụ thì tiền bạc nhiều. Hãm địa gặp sao Tham Lang đi cặp trở nên người khó chơi, tham lam, bủn xỉn. Hội cùng Phá Quân, tiền đến tay là hết. Gặp hung tinh hội tụ thì tác hoạ, gặp cát tinh hội tụ tốt lành…”


Về Vũ Khúc, Hi Di tổ có viết :
“….Vũ Khúc thuộc hành kim, trên trời coi về tuổi tho, vào số người chủ quản tài bạch, rất sợ bị kiềm chế lạc hãm. Rất cần Lộc Tồn và ưa Thái Am, lấy hai sao Thiên Phủ, Thiên Lương làm trợ lực. Gặp Lộc Mã thì phát tài, hội cùng Tham Lang thiếu niên bất lợi. Nếu đồng cung Thất Sát, Hoả Tinh vì tiền bạc mà bị hại. Ngộ Dương Đà thì cô khắc. Gặp Phá Quân khó bề hiển đạt. Vũ Khúc thủ mệnh là người cương cường quả đoán, tuổi Giáp, tuổi Kỷ phúc hậu, xuất tướng nhập tướng. Nữ mệnh có nhiều cát tinh là mệnh phụ, bị xung phá tất cô khắc…”

Cách Tham Vũ đồng hành:

Vì các đặc tính như trên, cho nên khi kết hợp với nhau, do tính chất khắc chế nên thường là lúc thiếu niên chịu nhiều vất vả. Gặp cách này là người tất tả ngược xuôi, cô qủa. Đây là mẫu người năng động, kỹ càng, rất có lợi về thương nghiệp. Nhưng không lúc nào được an nhàn, may chăng về cuối đời mới có thể yên vị.
Đặc biệt Tham Vũ đồng hành tại Tứ Mộ, rất cần gặp hai sao Hỏa Linh để trợ cách, gặp hai sao này thì rất dễ thành công lớn trong cuộc đời. Tuy vậy trong cách này cũng cần phân biệt, rõ ràng mới luận đoán được sâu hơn, căn cứ vào các lời giải đoán của cổ nhân:

- Tham Vũ tiền bần nhi hậu phú (Tham Vũ nhập mệnh, trước nghèo, sau giàu)
- Tham Hỏa tương phùng, phú ông chi cách (Tham lang gặp Hỏa tinh là cách Phú ông giàu có)
- Tham Linh tịnh thủ, tướng tướng chi danh. (có Tham Lang ngộ Linh tinh, làm tướng nổi danh)
- Tham Vũ đồng hành, vãn cảnh biên di thần phục. (lưu danh ngoài biên ải để cho láng giềng phải khuất phục, nhưng muộn màng)
- Tham lang Ngộ Hỏa tinh, cư miếu vượng, danh chấn chư bang. (võ nghiệp hiển đạt, lưu danh nơi biên ải, uy danh chấn động các nước láng giềng)
Người Tham Vũ đồng hành không hẳn chỉ là thành công trong thương trường, mà trong lĩnh vực quân đội, chỉ huy, cũng rất thành công.

Tham Lang khi miếu vượng rất cần sự trợ giúp của Hỏa, Linh. Khi Tham gặp Hỏa là cách "Tham Hỏa Tương Phùng", sẽ giầu có. Nhưng Khi Tham gặp Linh sẽ là cách "Tham Linh tịnh thủ". đây là cách hiển đạt về võ nghiệp.
Nếu Tham gặp cả hai sao Hỏa Linh thì sao? - Sẽ là "hào phú gia tư, hấu bá quý" có cả phú lẫn quý.
Khi Tham lang đi với Vũ khúc, chế hóa lẫn nhau mà làm thành cách "tiền bần hậu phú".
Tổng kết lại :
1. Tham + Vũ + Hỏa : tiền vận nghèo, vất vả, nhưng sau trung vận sẽ phát phú, giầu có. Đây là đệ nhất cách Doanh thương.
2. Nếu Tham + Vũ + Linh : Tiền vận lao đao, Nam chinh Bắc chiến, ngược xuôi bôn ba. Trung vận nổi danh, nhưng dù nổi danh vân không tránh khỏi vất vả. Đây là cách Binh gia, anh hùng biên ải.
3. Nếu Tham + Vũ + Hỏa + Linh : Có hai mẫu người :
- Thứ nhất : Mẫu người thành công nhờ doanh thương : Tiền vận lao đao, nghèo, vất vả. thường là quân nhân hay theo binh nghiệp. Trung vận có thay đổi chuyển hướng, chuyện làm ăn phấn phát mà trở nên giầu có.
- Thứ hai : Mẫu người thành công nhờ Binh nghiệp : tiền vận bôn bao lao toái, chinh chiến ngược xuôi, Trung vận nổi danh nhưng vất vả, Hậu vận Phú Quý gồm hai. Giàu có uy danh đủ cả. Tất nhiên, thời đại này, việc chinh chiến vốn ít có, Binh nghiệp có thể hiểu là không cứ phải là quân nhân, nhưng là một công việc gì đó mang tính chất giồng như Binh nghiệp.

====

Luận Mệnh Thân

Biểu Lý Tính Mệnh:
Ta thường nói Tính Mệnh, vậy ảnh hưởng ở các địa vật là Tính và thụ bẩm ở thiên can trời phú là Mệnh nên lập Mệnh để biết thọ yểu.

Mệnh là gốc của 12 cung số cần phải tốt đẹp. Ví như cây kia gốc rễ có to lớn bền chặt mới không sợ gió bão, và mới sinh được hoa thơm quả ngọt. Có thể cây kia to lớn xanh tốt, lại sinh hoa quả xấu, ví như Mệnh và Thân, nếu mạnh tốt Thân xấu là Mạnh cường Thân nhược thời cuộc đời tuy phú quý nhưng gặp nhiều vận hạn rủi ro. Mệnh xấu Thân tốt là Mệnh nhược Thân cường, thời cuộc đời tuy phú túc, có tiền tài nhưng ngu dốt, bệnh hoạn và hình khắc, ví như loại cây có hoa quả thơm ngọt nhưng gốc rễ bị hổng, sâu đục chắc không thể nào trường thọ được.

Nên quan niệm Mệnh Thân là duyên nợ của mình từ bao kiếp trước, tỷ như thuyết nhân quả của nhà Phật, nên trong cuộc sống hiện thực, có bao người giỏi giang, học thức mà vẫn thất bại.

Trái lại, thiếu chi người khả năng kém mà lại thành công, hiển đạt; thật là: si tủng ấm á gia hào phú, trí tuệ thông minh khước thụ bần; bởi ảnh hưởng phúc đức thiện á từ bao kiếp trước của mình, cộng với công tội của cha mẹ ông bà kết hợp lại mà thành cái may mắn, hoặc tai họa của đời mình, nên ta thường nghe nói: cha ăn mặn con khát nước.


Cung Mệnh có ảnh hưởng chung cuộc sống, nhưng mạnh mẽ nhất là thời gian nửa cuộc đời trước nên Tử vi đã phân định, tam thập niên quan mạnh, mà nửa cuộc đời sau xin xem ở Thân, tam thập niên hậu khán thân.

Thân tương quan Mệnh:
Thân là kết quả chịu trực tiếp các đức tính, các công, nghiệp của Mệnh mà thành, nên Mệnh là nhân và thân là quả của Mệnh. Mệnh chi phối toàn cuộc đời, lại gồm thêm sự thọ yểu mà Thân chỉ có nửa đời sau, nên Mệnh quan trọng hơn Thân nhiều, không thể nói mạnh hảo bất như thân hảo được.

Thân hảo tuy có làm nên nhưng nếu mạnh yểu vong thời cũng là bỏ đi vậy. Cũng như Thân hảo bất như Hạn hảo thời nên luận xét Hạn là thời vận, mà Mệnh Thân gốc rễ; đã được phú quý rồi, nếu Thân Mệnh xấu dù có gặp được hạn tốt nữa, cũng chỉ như cơn mưa mát mặt dễ chịu lúc ấy thôi, sau phải bại vong ngay, vì Mệnh Thân xấu thời sao giữ được phú quí lâu dài. Phải lấy

Mệnh là chủ, luận với Thân cũng như Mệnh Thân với Phúc đức vậy.

Phúc Đức liên hệ Mệnh Thân:
Ta thường nói cung Phúc Đức là tối trọng, Phúc Đức đẹp mới làm nên được, nếu Phúc Đức xấu là xấu.
Định luật này đúng với các môn học khác vì Phúc Đức và các cung khác không có tuyến định phân rõ ràng, riêng ở Tử vi thời Phúc Đức 1 cung, Mệnh 1 cung, Thân cư cung nào luận Thân ở cung ấy, đã có giới hạn rõ ràng, không thể áp dụng như các môn học khác được.

Mệnh Thân phải tốt mới làm nên được, nếu Mệnh Thân xấu thời không làm nên phú quý hiển đạt được.

Thân cung chỉ để hợp luận với các cung mà thôi, nếu Phúc Đức tốt thời tăng thêm, xấu sẽ bị chiết giảm.
Phúc cung để khán cả một đại gia tộc, tam tứ đại và tương lai các con cháu sau này manh nha ở các môi trường phúc, thiện, hung, trong cung Phúc Đức mà chịu liên hệ cũng như Mệnh Thân chịu chung ảnh hưởng của Phúc cung.

Nếu nói sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy là phúc đức hệ lụy từ bao kiếp trước cùng với phúc ấm tổ tiên là nhân của Mệnh thời do thiện ác đã kết hợp nên Mệnh xấu hay tốt rồi.
 

Nên Mệnh tốt là kết quả của phúc ấm tốt mà phúc bạc thời hẳn Mệnh sẽ xấu.
 

Mệnh Thân xấu là hiển nhiên phúc ấm lưu truyền xấu nên không thể hiển đạt được.
 

Mệnh Thân tốt là kết quả của phúc đức tốt kết hợp lại nên sẽ được thịnh vượng.
 

Biểu lý Phúc cung:
Thí dụ: Con 1 nhà quyền quí, có họ hàng nhiều người làm nên danh phận, trí khôn ngu muội, tuy học hành không thành, ra đời không chức tước nhưng được nhờ của cải hi lu li của cha mẹ và họ hàng mà được ấm thân thời lá số sẽ hiện ra Cung Thân xấu mà Phúc cung tốt đẹp; trái lại một người con nhà nghèo, ra đời công thành danh toại, vì có cung Mệnh Thân tốt đẹp mới làm nên được nhưng cung Phúc đâu có đẹp hoàn toàn, Các cung Tử-đức, Huynh-đệ, Phụ-mẫu, Mệnh Thân thời nên hiệp ảnh hưởng cung Phúc lại mà luận xét.

Nếu thấy phúc tốt thời vì như có sẵn duyên phứơc căn bản để tăng tiến thêm sự tốt đẹp, riêng Mệnh Thân nếu xấu thời chỉ y thực túc hỷ mà thôi, không thể quý hiển được.
Nếu đã hiểu tiên tích đức nhi hậu tầm long thời ăn ở lấy phúc đức làm trọng để sau này hậu duệ được nở ngành xanh ngọn, không nên tác hung, tác họa mà sau sẽ tuyệt đường vinh danh hiển tổ.


Truyền tinh liên hệ:
Ở Tử-vi học thường nói sinh đồng niên, nguyệt, nhật tại sao lại bất đồng phú quý là vì 2 trẻ sinh đồng giờ tất độ số tinh đẩu như nhau nhưng phải phối hợp số cha mẹ của 2 trẻ lại để xem.
Đứa trẻ không làm nên, tuy các sao ở cung Mạnh của nó cũng giống như các sao ở cung Mệnh của đức kia, nhưng cung Mệnh hay Phúc của nó không có sự truyền tinh với cung Phúc Mệnh của cha mẹ nó.
Một gia tộc đã vượng phát mấy đời, khi đem các lá số ra đối chiếu cũng thường thấy các sao cư Phúc và Mệnh truyền tinh mãi cho nhau, khi thấy các sao ở Phúc và Mệnh không truyền tinh là dấu hiệu suy tàn đã tới.
Cũng một định luật, địa-lý gia tại sao hạ la-bàn khán mộ thạch xong lại biết nam nữ thứ trưởng hay con út ngành nào phát, ngành nào bại và thường phát cho toàn thể các tuổi được.


Ở Tử-vi, lá số nào không truyền tinh là bại, trừ khi thấy có Cát diệu hội triều đẹp hơn so với các số trong gia đình tất nhiên có sự vượt lên, hay đã được hưởng phúc mới kết phát vậy.


Tương quan Mệnh và Tài:
Nên luôn luôn coi cung Mệnh là chủ, ví như người cha trong một gia đình, không thể suy nhược yếu hèn được. Cũng như một cái hồ nước, có cứng chắc giầy bền thời chứa quá nhiều thời hồ sẽ bị bể, và nứơc tràn ra làm dơ bẩn thêm.


Nên Mệnh cường Tài nhượt thường phát phúc.
Nếu Mệnh nhược Tài cường năng chiêu họa.


Vậy tiền tài đến tay chưa chắc là phúc, vì nếu không đủ tài ba mẫn cán sẽ ngược lại là hạn họa.


Phu-Thê cung:
Cũng như vợ chồng so đôi tuổi, thời phu khắc thê nghi tài, nghi tử, nghi phú, nghi quý. Mà thê khắc phu thì nghi bại nghi vong.
Khi nghiên cứu Đẩu-số mới thấy sự huyền diệu, vợ chồng là duyên kiếp, Thiên-lý ngộ, nếu có sự hòa hợp bách niên giai lão, lá số tất nhiên có sự truyền tinh ở cung Phu-Thê.


Nô Bộc:
Các sao ở cung Mệnh dù hung tính hay cát tính cũng phải tốt đẹp hơn các sao ở cung Nô Bộc thời minh mới mong điều khiển các gia nhân giúp việc, tuân hành kỷ luật để phù trì cho nên công nghiệp.
Nếu lấy các sao ở Mệnh yếu hơn cung Nô-Bộc tức là mình sẽ giúp việc kẻ khác là lý đó vậy.


Điền - Trạch:
Nếu các sao cư ở cung Điền-trạch là Khoa Quyền Lộc, Thai Tọa, Tả Hữu, là hiển nhiên mình sẽ là gia nhân cho nhà phú quý, nếu các sao cư ở cung Mệnh quá yếu.
Như vậy không nên luận cung Điền-trạch tốt lắm mà lầm lỡ, nếu thấy cung Mệnh yếu.


Phụ-Mẫu:
Ngay như Phụ-mẫu là bậc sinh thành thời các sao cũng nên yếu hơn cung Mệnh Thân, vì cung Mệnh Thân là chủ trong 12 cung, nếu xác sao cát diệu cư ở các cung khác thời còn đâu sao tốt cư ở cung Mệnh Thân được?
Vả chăng con hơn cha là nhà có phúc, cho nên Mệnh tốt hơn Phụ-mẫu là điều đáng mừng chớ không đáng trách, Cung Mệnh phải là chủ thứ đến Thân Quan Tài không được yếu hơn các cung khác, cũng như Nữ phải Mạnh Thân Phu là trọng, các cung khác là thứ chi.
Vậy Nam hay Nữ ngoài cung Mệnh Thân Phu Quan Tài phải đặt cung Tử -tức thành một vần để hiệp thêm với Phúc-đức mà xét.
Vì cuộc đời tuy có bôn ba lao lực nhưng vẵn niên con cái thành đạt tất nhiên sẽ được an hưởng lúc tuổi già.


Tật – Ách cung:
Hơn nữa, cung Tật -ách nên coi là cung Mệnh thứ hai như bóng với bóng hình, tạo hạnh phúc hay tai tật cho cả cuộc đời.
Tật – ách là căn cứ để xem đám tang lớn lao ra sao khi chết, nên có thể phụ luận, mà biết được sự phú quý có trường tồn không, nếu các sao tượng cho một cuộc ma chay lớn, cũng là dấu hiệu để biết được sự quý hiển tới lúc chầu tiên cảnh. Phải căn cứ vào ngũ - hành của tinh diệu cư Tật -ách mà luận xét bệnh tật cũng như tính tình thụ bẩm từ từ ngũ hành vậy.

(Trích Tử Vi Ảo Bí - HÀ LẠC DÃ PHU VIỆT VIÊM TỬ)

===

 

Bói toán:

Xem tướng:

 

 
 

Copyright @ 2011 TN InfoWay

www.swarovski.com 75% off Retail! Free Shipping and Free Gift Jegem.com ~ 250x250 Birthstone Jewelry Radisson