|
NGŨ HÀNH - TINH HOA VĂN HOÁ BẬC NHẤT CỦA
DÂN TỘC VIỆT NAM
(HAY TẠI SAO BÀN
TAY CON NGƯỜI CÓ 5 NGÓN)
Nguyễn Thế Hùng PhD
Của nhiều loài chim có 4 ngón, và một
vuốt. Các con vật quanh ta như gà, vịt,
ngan ngỗng cũng thế. Người ta bảo, cái
vuốt chính là ngón cái bị thoái hóa. Các
loài thú cũng vậy, con thì 4 ngón, con
thì 5 ngón. Riêng con người thì bàn chân
và bàn tay có 5 ngón. Tại sao như vậy?
Ngoài các công dụng thông thường của các
ngón tay là để cầm nắm giữ, để thực hiện
các thao tác từ đơn giản đến tinh tế,
thì các ngón tay còn có tác dụng tinh
thần to lớn. Thông tin từ các ngón tay
nhanh chóng được chuyển vào bộ óc bằng
phép đếm. Các nhà tử vi, bói toán còn
dùng các lóng ngón tay để bấm độn và dự
doán một cách vô cùng tài tình.
Để trả lời băn khoăn “vì sao 5 ngón”
chúng tôi trình bày dưới đây một luận
thuyết mang tính tham khảo.
CHƯƠNG I.
LÝ THUYẾT NGŨ HÀNH
1.1. TẠI SAO CÁI GÌ CŨNG ĐƯỢC GẮN VỚI
NGŨ HÀNH
Có 5 từ trong môn Ngũ hành gọi là: Kim,
Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Không có một thứ gì
mà không được gắn với một trong 5 từ ấy.
Sao trên trời thì có Sao Kim, sao Thủy,
Sao Mộc, Sao Hỏa, Sao Thổ,… Phương hướng
cũng vậy: Phương tây thuộc Kim, bắc
Thủy, Nam Hỏa, Đông là Mộc. Các bộ phận
trong cơ thể cũng có Kim là phổi, Thận
là Thủy,… Thậm chí ngày giờ có ngày Kim
ngày Mộc, ngày Hỏa. Bàn tay ta có gò Mộc
tinh, gò Kim tinh. Lưỡi có thể nhận biết
được vị của thực phẩm: vị cay là Kim, vị
mặn là Thủy, vị chua là Mộc…. Tâm trạng
con người cũng được phân theo Ngũ hành:
Buồn là Kim, sợ là Thủy, giận là Mộc.
Giọng nói con người cũng được qui về Ngũ
hành: Khóc là Kim, Rên là Thủy,….
Một cách tự nhiên nhất và khoa học nhất
chúng ta có thể hỏi: Tại sao cổ nhân cứ
qui các vật, các khái niệm trên đời này
về Ngũ hành? Tại sao phép gán đó lại có
thể là chỗ dựa cho các tư duy? Tại sao
thầy thuốc dùng Ngũ hành lại có thể chẩn
bệnh chính xác, chữa bệnh hiệu quả?
Thật rắc rối và thần bí.
Nhưng ta thử cố gắng xem sao?
Để trả lời các câu hỏi trên chúng ta
trước hết hãy bắt đầu từ lập luận: cái
có tên giống nhau thì ắt phải có cái gì
chung.
Chẳng hạn, hành Kim được gắn cho sao
Kim, phương Tây, nỗi buồn, vị cay, mầu
trắng, lá phổi, … Vậy cái gì là chung
nhất cho các đại lượng trên. Tại sao nỗi
buồn của một cô gái lại có chung tên gọi
là Kim với vùng đất phía tây, với màu
trắng trên lá cờ của nước Pháp hoặc với
ngôi sao Kim xa xôi trong vũ trụ bao la?
Cái gì là chung cho những thứ vô cùng
khác biệt, xa cách nhau như vậy.
Đêm hôm thứ ba vừa rồi một chuyên gia
chiến lược đang trầm ngâm đọc bản kết
quả phân tích dự báo về trữ lượng dầu mỏ
trên thềm lục địa phía Nam đảo Phú Quốc
bỗng giận sôi lên vì số liệu bị xóa ở
chỗ quan trọng nhất. Sáng hôm sau ông
lại bị một chị bán hàng ngoài chợ Hôm ở
trung tâm Hà nội đốt vía vì mới tám giờ
đến hỏi giá định mua hai cân cam sành
rồi lại không mua? Nỗi bực tức của ông
và nỗi giận của cô bán hàng đều được gọi
là hành Mộc. Nhưng tại sao lại là Mộc.
Tại sao cái giận học thuật cao siêu của
ông lại bị xếp chung ngăn với hành vi vô
văn hóa kia?
Hay người xưa cứ bịa đặt bừa phứa cho
các đại lượng ấy một cái tên là Ngũ
hành, Kim-Thủy-Mộc-Hỏa-Thổ, mà bây giờ
khoa học hiện đại đã quăng sọt rác hết.
Nhưng, nếu vậy thì tại sao môn Ngũ hành
lại bền vững đến tận bây giờ sau hàng
ngàn năm thử thách.
Không, ngũ hành không bịa đặt. Ngũ hành
thật đơn giản. Ngũ hành chính là biểu
tượng của quá trình vận động. Bởi vì sự
vận động chính là cái chung nhất của mọi
sự vật trên thế gian này.
Những sự vật khác nhau mà có đặc tính
vận động giống nhau, hình thức vận động
giống nhau, kết quả vận động giống
nhau,… sẽ được qui về cùng một hành. Chữ
hành ở đây xuất phát từ Hán tự chính là
hành trình, quá trình, hành tiến, hành
động,…
Mà trên thế gian này mọi sự vật chỉ có 5
kiểu cách vận động mà thôi. Năm phương
thức vận động ấy khoác năm biểu tượng
Kim-Thủy-Mộc-Hỏa-Thổ làm áo, vừa lộng
lẫy vừa huyền bí. Cái áo Ngũ hành đó là
thành quả dệt may hàng ngàn năm qua của
những bộ óc siêu việt nhất. Ngũ hành
cũng chính là di sản văn hóa quí báu
nhất của tổ tiên chúng ta.
2.NGHIÊN CỨU VỀ THỞ
Con người ta ai cũng thở. Khi nào ngưng
thở là chết. Vậy thở là một hoạt động
quan trọng bậc nhất trong cuộc sống của
chúng ta. Thở không đơn thuần chỉ có 2
pha: hít vào và thải ra. Thở là một
chuỗi các hành động cực kỳ phức tạp, nó
là sự mở đầu của 5 quá trình.
Quá trình 1: Thu vào
Trong quá trình thu vào ta mang vào phổi
đủ thứ khí, ôxy (dưỡng khí), nitơ, các
chất mùi, các hạt bụi bặm. Trong suốt
quá trình thu vào, có một hoạt động khác
rất quan trọng kèm theo, đó là sự lựa
chọn để cho thông qua và loại bỏ. Tại
các phế nang li ti trong phổi chỉ còn
lại oxy. Phần lớn các thứ khí và bụi bặm
khác không cần thiết cho các quá trình
sống tiếp sau đó đều bị thải loại. Vậy
quá trình thu vào luôn đi kèm với quá
trình lựa chọn.
Quá trình 2: Tản ra.
Tản ra không phải là pha thở ra, sự thải
thán khí qua mũi hoặc miệng. Sự thải
loại thán khí ra chỉ là hành động chuẩn
bị cho sự hít vào kế tiếp, nó là một
phần tất yếu của quá trình 1. Tản ra ở
đây chính là phân tán cái sản phẩm cuối
cùng của quá trình 1, quá trình tích lũy
của ôxy tại phổi, đến các tế bào. Trong
quá trình 2 này, các phân tử ôxy được
hồng cầu mang đến từng tế bào, cùng với
chất dịnh dưỡng được cung cấp từ dạ dày,
để duy trì và phát triển sự sống của cơ
thể.
Quá trình 3: Sinh mới.
Tại tế bào các phân tử ôxy mới được tản
ra trong quá trình 2, tiến hành các phản
ứng hóa sinh, cung cấp năng lượng cho
các hoạt động khác của cơ thể. Quá trình
sinh ra năng lượng mới được gọi là quá
trình sinh mới bậc nhất. Quá trình sinh
mới bậc nhất này bảo đảm sự hoạt động
bền vững của cơ thể, mà ta gọi là sự
sống. Nếu quá trình bậc nhất đó không
được duy trì thì cơ thể sẽ chết. Các tế
tào nhờ sự tản ra của ôxy từ phổi và sự
tản ra của thực phẩm từ dạ dày sẽ được
nuôi sống và phát triển. Các tế bào (trừ
các neuron thần kinh) sẽ sống một cuộc
đời không dài lắm, đủ độ chín thì chúng
sẽ phân đôi, tạo ra một tế bào mới. Quá
trình tạo thành tế bào mới gọi là quá
trình sinh mới bậc hai. Cơ thể còn một
quá trình sinh mới bậc ba nữa, chính là
sinh ra con cái thuộc thế hệ sau. Ba quá
trính sinh mới đó được gọi chung là sinh
mới. Cả ba quá trình sinh mới này đều là
hệ quả trực tiếp của hai quá trình trên:
thu vào và tản ra.
Quá trình 4: Hoàn thiện
Đối với cơ thể sản phẩm của cả ba quá
trình sinh mới đề cập ở trên đều dần dần
hoàn thiện. Hoàn thiện bậc nhất là tập
trung và gom góp năng lượng từ tất cả
các tế bào để duy trì thân nhiệt, để
sinh công cho các hoạt động cơ bắp thông
thường. Hoàn thiện bậc hai là sự lớn lên
của các tế bào non, từ chỗ mềm yếu thành
các tế bào trưởng thành. Hoàn thiện bậc
ba là duy trì và hoàn tất các khả năng
sinh lý của quá trình sinh con. Đối với
phụ nữ, đó là quá trình đều đặn bổ sung
năng lượng để nuôi trứng lớn dần lên và
chuẩn bị cho các chu kỳ kinh nguyệt từ
lúc dậy thì cho đến khoảng 40-60 tuổi.
Đối với nam giới thì quá trình hoàn
thiện là liên tục sản suất tinh trùng
cho đến khoảng trên dưới 70 tuổi.
Quá trình 5: Suy tàn.
Sự suy tàn là không tránh khỏi đối với
tất cả các thực thể mà chúng ta đã biết
trên thế gian này. Từ đời sống ngắn ngủi
của con bọ chệp (một loại bọ, sáng được
sinh ra, chiều đã chết), đến sự kéo dài
hơn 15 tỉ năm qua của vũ trụ. Tất cả các
đối tượng trong vũ trụ đều sẽ bị suy
tàn. Cơ thể con người cũng suy tàn dần
khi mà khả năng phân đôi của tế bào kém
dần, giãn cách giữa hai lần sinh đôi
ngắn lại, hoặc tại một số khu vực sự
sinh sôi tế bào xảy ra nhanh đến mức
không kìm hãm được (ung thư). Quá trình
dẫn đến cái chết dần dần xảy ra, nhưng
ta thấy không rõ lắm. Toàn bộ quá trình
ấy đều được gọi là quá trình thứ 5, quá
trình suy tàn, được kết thúc bởi cái
chết mà ta gọi là sự trở về với cát bụi.
Năm quá trình trên của sự sống bắt đầu
tự sự tích lũy ôxy trong phổi. Khi nào
không thể tích ôxy được nữa thì chết.
Năm quá trình ấy sẽ là cơ sở cho sự phân
tích tiếp theo về các quá trình có thể
qui về 5
3.KHÁI QUÁT HÓA MỘT SỐ
ĐẶC TÍNH CỦA NGŨ HÀNH
3.1.Năm bước của vận động hay Ngũ hành
Ba bước đầu của sự vận động là thu vào,
tản ra và sinh mới. Ba bước ấy biến từ
không thành có. Hai bước sau là sự trở
lui của vận động bao gồm hoàn thiện và
suy tàn. Tổng cộng sự vận động có năm
bước, hay năm hành trình. Năm bước ấy
biến đổi sự vật từ nhỏ bé thành phương
trưởng, từ âm nhu thành dương cương, từ
vô hình thành hữu hình, rồi lại tiếp tục
biến đổi sự vật từ đỉnh cao về nhỏ bé,
từ dương về âm, từ hữu hình về lại vô
hình, để rồi lại tiếp tục một chu trình
vận động mới. Quá trình vận động đó
trùng trùng, điệp điệp, lớp này tiếp lớp
kia, xen kẽ đan chéo nhau, thúc đẩy kìm
hãm nhau.
Nếu nhìn vỏ ngoài của sự vận động vô
cùng và bất tận đó, ta thấy mọi sự thật
phức tạp. Nhưng nếu qui lại thành Ngũ
hành ta thấy vấn đề trở nên thực đơn
giản. Chính vì vậy Lão tử mở đầu trước
tác của ông bởi câu: “Đạo khả đạo phi
thường đạo” (3). Viết câu đó ra, Lão tử
có ý rằng cái khả dĩ được gọi là đạo bao
trùm cho mọi sự vật và quá trình trong
trời đất phải là đạo phi thường. Đạo phi
thường đó chính là qui trình vận động
theo 5 bước, mà người xưa gọi là Ngũ
hành.
Vận động trong vũ trụ là vô biên và vĩnh
hằng. Hình thức của sự vận động không
phải là một đường thẳng kéo dài mãi mãi,
mà luôn khúc khuỷu quanh co. Quan sát
thực tế cổ nhân đã nhận thấy các bước
quanh co ấy chung qui chỉ có 5 giai
đoạn. Giai đoạn 1 là tụ sinh, giai đoạn
2 là khởi phát, giai đoạn 3 là đột phá,
giai đoạn 4 là hoàn thiện, giai đoạn 5
là suy tàn. Sau đó lại bắt đầu sự khởi
sinh một vòng mới với những bước quanh
co giống như trước, nhưng ở trình độ và
qui mô khác. Năm bước của sự vận động
đó, người xưa đã biểu tượng hóa thành
Ngũ hành. Tức là 5 hành trình, lộ trình,
hay giai đoạn. Ngũ hành không phải là
các biểu tượng tĩnh tại như Kim là sắt
thép, Thủy là nước, Mộc là cây cỏ, Hỏa
là lửa, Thổ là đất.
Ngũ
hành chính là 5 phép chuyển hóa (chứ
không phải 72 phép biến hóa như của Tôn
Ngộ Không). Mọi sự vận động trong tự
nhiên và xã hội không thể ra ngoài 5
phép chuyển hóa đó. Vậy Kim, Thủy, Mộc,
Hỏa, Thổ chính là 5 biểu diễn toán học
mô tả 5 phép chuyển hóa đó. Các phép
chuyển hóa ấy có quan hệ chặt chẽ với
nhau theo một thứ tự nhất định. Sự vận
động nào đi đúng trật tự trên thì thuận
tự nhiên, đi trật thì gọi là ngược tự
nhiên. Cho nên, người ta nói “con tạo
xoay vần” với hàm nghĩa là tạo hóa thì
“xoay” theo chiều thuận, còn con người
có thể vì ý chí chủ quan mà “vần ngược”
hoặc “vần thuận.”
Khi phân tích về sự thở chúng ta đã gán
cho Ngũ hành một số đặc tính cơ bản. Cụ
thể như sau:
-Kim là tích tụ có chọn lọc,
-Thủy là phân tán và thử sai,
-Mộc là sáng tạo, đột phá, trong những
điều kiện nhất định,
-Hỏa là hoàn thiện cái mới được sáng
tạo, sao chép mô hình, nhân rộng cải
tiến mô hình,
-Thổ là sự suy kiệt, khi năng lượng dành
cho sự nỗ lực phát hỏa đã hết. Lúc đó
theo các nguyên lý của khoa học tự nhiên
(hóa học, vật lý, sinh học) chính là quá
trình chuyển đổi trạng thái của vật thể.
Trong lòng của sự suy kiệt và rời rã lại
dần dần có sự tích tụ năng lượng, khối
lượng, vật chất, tinh thần,…để chuẩn bị
cho một chu trình phát triển biến hóa
sau nữa, dưới dạng thức khác. Chính vì
thể cổ nhân bảo Thổ có tính nuôi dưỡng.
Thổ trong phép bấn độn, trong tử vi,
trong định phương hướng,… nằm ở khu vực
trung tâm chính là vì nó có tính nuôi
dưỡng. Thổ theo ngôn ngữ mới là môi
trường cho sự tìm tòi của tích Kim vòng
mới.
Năm phép chuyển hóa, năm biểu tượng Ngũ
hành, lẽ ra có thể được thay thế bởi các
ký hiệu toán học, các nét chấm như trên
Hà đồ Lạc thư, hoặc các vạch liền hay
vạch đứt như trong Kinh dịch, nhưng nếu
biểu diện như thế thì ta lại làm cho Ngũ
hành thêm thần bí. Vì vậy chúng tôi dùng
những từ ngữ nôm na để giải mã như sau.
Giai đoạn 1 tụ sinh, biểu tượng là hành
KIM, chính là quá trình tụ vào, thu vào,
tích lũy, hay còn gọi là tích KIM. Mọi
quá trình mang tính thu vào, tích lũy
đều là KIM. Bất kể là tích vàng bạc, kim
loại hay tích nước, tích gỗ, tích đức,
tích kiến thức, hay hít không khí vào
phổi… đều thuộc về hành KIM. Hành Kim là
khởi đầu của mọi quá trình vận động phát
triển.
Giai đoạn 2 khởi phát, biểu tượng là
hành THỦY. Sự tích lũy đến mức nào đó sẽ
dẫn đến tản ra, phân tán ra, tất nhiên
trong tích lũy đã có chế biến, và chọn
lọc. Ví dụ phổi tích không khí, gồm có
nitơ, ôxy, nhưng chỉ chọn lọc ôxy để tản
ra trong các mạch máu và tế bào. Vậy
hành THỦY là tản ra, như ta đổ cốc nước
xuống đất thì nước tản ra xung quanh và
thấm dần vào lòng đất. Sự tản ra là khởi
phát cho quá trình phát triển.
Giai đoạn 3 đột phá, biểu tượng là hành
MỘC. Sự tản ra của các yếu tố nhất định
làm sinh mới một cái gì đó. Cho nên sau
THỦY ắt đến MỘC, Ví dụ sự tản ra của
dưỡng chất và ôxy vào tế bào làm sinh
sôi các tế bào mới; sự tản ra của phân
gio, nước, ánh sáng và hạt giống làm
sinh mới cây cỏ. Hành Mộc là biểu tượng
của cái mới sinh thành, cho nên người
xưa ví giai đoạn này nhự sự nảy chồi của
cây cối, do đó gán cho giai đoạn này cái
tên là Mộc. Hành Mộc cũng chính là quá
trình sáng tạo. Những thành tựu lớn lao
mà nhân loại đã đạt được trong suốt quá
trình tiến hóa chính là lớp lớp các hành
Mộc của bao thế hệ đã qua.
Giai đoạn 4 hoàn thiện, biểu tượng là
hành HỎA. Đó là quá trình hoàn thiện của
cái mới sinh trong giai đoạn MỘC. Sự
hoàn thiện mô hình cho thích ứng với
thực tế. Khi mô hình đã hoàn thiện mỹ
mãn thì tiếp tục nhân rộng ra. Ví dụ mô
hình nuôi tôm nước lợ sau khi đã được
thử nghiệm tốt, đã được chứng tỏ có hiệu
kinh tế ở qui mô gia đình, qui mô doanh
nghiệp tại một địa phương thì nó được
nhân rộng ào ào như phong trào. Sự ào ào
bừng bừng ấy mang sắc thái của lửa. Cho
nên cái gì mang tính chất nhanh gấp, ào
ào, bừng bừng là thuộc về hành HỎA. Một
người nóng tính làm gì cũng mạnh mẽ,
nhanh gấp người ta bảo rằng anh ấy có
tính HỎA.
Giai đoạn 5 suy tàn, biểu tượng là hành
THỔ. Đó là giai đoạn nghỉ ngơi sau những
cố gắng ào ào của hành hỏa, giống như
củi cháy hết thì còn lại tro. Trong
trạng thái THỔ, các phần tử của hệ thống
rời rạc, ít liên hệ mật thiết, ít có
tương tác với nhau. Người ta ví Thổ như
mặt đất, vì nó là chỗ chứa đựng mọi phụ
phẩm của các quá trình phát hỏa. Hình 1
mô tả biểu tượng cổ về Ngũ Hành.
3.2.Tương sinh và tương khắc
Càng ngẫm nghĩ kỹ lưỡng chúng ta càng
thấy rõ nét sự tương sinh và tương khắc
của năm quá trình trên.
Sơ đồ truyền thống diễn tả Ngũ hành như
hình 1 (có trong tất cả các sách nói về
Ngũ Hành).

Hình 1. Sơ đồ truyền thống diễn tả Ngũ
hành.
Trong sơ đồ hình 1 ta thấy nét liền và
nét nứt. Nét liền là tương sinh, nét đứt
là tương khắc. Theo các định nghĩa Ngũ
hành như là các quá trình ta thấy rõ
ràng các hành có tương sinh và tương
khắc nhau. Ví dụ, Kim là tích tụ tất
sinh Thủy là phát tán. Nhưng Kim lại
khắc Mộc, vì quá trình tích tụ làm kìm
hãm (làm chậm) năng lượng cho đột phát
và sinh mới. Nói theo ngôn ngữ dân gian
Kim (tích tụ) là Ông của Mộc (sinh mới).
Khi đó Kim là tiền đề xa của Mộc, cản
trở và điều chỉnh các đặc tính của sự
sinh mới. Ví dụ quá trình tích tụ ở phổi
toàn dưỡng khí trong lành thì các tế bào
sinh mới sẽ tươi tốt. Ngược lại có bụi
silic thì sẽ sinh ung thư.
Trong khi đó chính Kim lại bị Hỏa khắc.
Bởi vì quá trình Hỏa mang tính sao chép
mô hình, rất nhanh, ào ào, mang tính
phong trào,… Quá trình ấy không thích
hợp cho các quá trình tích lũy. Cho nên
người xưa nói “sự yên tĩnh có lợi cho
việc tu dưỡng tâm hồn”.
Sự tương sinh tương khắc trong Ngũ hành
được chiêm nghiệm bởi kinh nghiệm sống
của mỗi cá nhân. Cơ sở lý luận của tương
sinh tương khắc là học thuyết âm dương.
Chúng tôi sẽ trở lại chủ đề này trong
một dịp khác.
3.3.Vài ví dụ về Ngũ hành
Ví dụ 1: Thánh Gióng
Truyền thuyết Thánh Gióng chính là một
ví dụ tuyệt vời của dân Việt nam về Ngũ
hành. Thánh đẻ ra ba năm không nói cười,
nhưng khi có lệnh vua, thì cả làng tích
gạo cho Thánh ăn, thợ thì rèn áo giáp
sắt, ngựa sắt, và gậy sắt. Đó chính là
lúc cả cộng đồng tích lũy cho một đối
tượng: đó là hành Kim.
Khi mọi thứ đã đầy đủ Thánh vươn vai từ
đứa bé con ba tuổi trở thành lực sỹ,
nhẩy lên ngựa, phi ra trận địa. Mấy hành
động đó là Thủy
Hành Mộc chính là lúc ngựa phun ra lửa,
Thánh dùng gậy sắt đánh dẹp quân thù. Mô
hình đánh giặc được xây dựng xong (công
nghệ cao nhất đương thời, sức mạnh tập
trung nhất)
Hành Hỏa là lúc các động tác đánh giặc
được nhân lên, mở rộng mô hình. Vũ khí
được hoàn thiện, hỏng gậy sắt dùng gậy
tre. Nó đủ cứng, đủ dẻo dai hơn gậy
thép, mà lại dễ làm, ai cũng có thể chế
tạo được. Và chắc là lúc đó ngoài một
người một ngựa của Thánh còn ngàn vạn
người dân người lính khác nữa chứ. Khối
tâm của ngàn người lúc đó được tập trung
lại thành sức mạnh lớn.
Cuối cùng hành Thổ là sự tan rã, sự kết
thúc của toàn bộ quá trình. Thánh về
trời: Cái lãng mạn tuyệt vời của dân
Việt: Thổ không phải luôn luôn là thổ
địa.
Ví dụ 2. Đời người
Vòng đời của một con người là một ví dụ
khác về Ngũ Hành. Kể từ lúc mới sinh ra
đó là thời của Kim. Cha mẹ cho anh ta ăn
uống, nuôi dưỡng cho lớn, cho học hành
là quá trình tích luỹ năng lượng, quá
trình hình thành một đối tượng mang tính
Kim. Học được thành tài, anh ta bắt đầu
vào đời, đó là trạng thái Thuỷ. Làm được
một việc gì đó là Mộc. Nhân rộng nó ra
là Hoả. Qua công việc đó anh ta có tiền
bạc địa vi, có danh tiếng, đó là lúc
bừng lên của Hoả. Nếu không khéo thì anh
ta đi ngay vào Thổ, thân bại danh liệt,
đời anh ta thành tro tàn im lặng. Nhiều
người gặp vận Thổ vẫn vùng lên vì tích
luỹ được yếu tố Kim ngay trong thất bại
Thổ. Như vậy một đời người có thể phân
thành nhiều vòng Ngũ hành.
Ví dụ 3. Công ty Sony
Năm 1946 trong tro tàn của chiến tranh
tại vùng Nihonbashi, Tokyo, Nhật bản,
hai Ông Ibuka và Morita đã tích 190.000
yên, cộng với tri thức về điện và lòng
quyết tâm vô bờ để mở một công ty nhỏ
trên một quả đồi ngoại ô. Lúc đó thuộc
hành KIM. Sau đó họ nghiên cứu chế tạo
nồi cơm điện và máy radiô bán dẫn, rồi
đưa các sản phẩm ấy len lỏi vào thị
trường. Họ đã làm tản ra cái mà họ đã
chế tạo được bằng lượng KIM ít ỏi đầu
tiên kia. Lúc đó thuộc hành THỦY. Năm
1957, sau gần 10 năm gây dựng hai ông đã
đủ lực và họ quyết định gây dựng một
công ty mạnh tên là SONY. Lúc đó thuộc
hành MỘC. Một công ty mới chưa hề có tên
trên thế giới đã được sinh thành, được
sáng tạo ra. Sau đó công ty ngày càng
hoàn thiện cả về tổ chức, công nghệ, và
nhiều sản phẩm mới. SONY lúc đó vào hành
HỎA. Nhiều công ty khác đã bắt chước họ
làm nồi cơm điện, đài bán dẫn, máy nghe
nhạc, máy ảnh,…
Nếu lúc ở HỎA mà họ không tiếp tục tích
KIM để nghiên cứu phát triển sản phẩm
(công tác R&D) mới thì bây giờ SONY đã
về THỔ một cách điêu tàn với rất nhiều
sản phẩm lỗi thời. Quá trình phát triển
của SONY là quá trình tích KIM liên tục
để tạo sản phẩm mới. Mỗi sản phẩm mới là
một vòng Ngũ hành con trong tổng thể
chiến lược phát triển của công ty.
Các công ty khác cũng phát triển như
vậy, từ Microsofl, Google, đến FPT,
Lilama,… Những công ty nào đi chệch con
đường phát triển tích cực ấy (không liên
tục tích KIM) thì sẽ về Thổ, như hãng xe
hơi nổi tiếng Renault của Pháp.
Ví dụ 4. Phóng điện sét
Sự hình thành của phóng điện sét là một
ví dụ về Ngũ Hành tự nhiên. Nắng nóng
làm hơi nước bốc lên tạo thành mây. Các
điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, gió làm cho
các phần tử hơi nước nhỏ bé trong đám
mây cọ sát nhau, tạo thành các điện
tích. Lúc đó, là quá trình tích tụ điện
tích của đám mây- hành Kim. Khi Kim
(điện tích đám mây) đã tích tụ đủ lớn
thì có sự cảm ứng điện tích trái dấu
đáng kể ở mặt đất bên dưới đám mây. Các
tia tiên đạo phóng điện nhỏ lẻ dần dần
hình thành và vươn dài ra, tản ra về
phía dưới- hành Thủy. Khi các tia tiên
đạo từ đám mây đi xuống và từ mặt đất đi
lên vươn ra đủ gần nhau thì có sự phóng
điện nối liền hai kênh dẫn điện đó. Ta
nghe thấy tiếng sét nổ - hành Mộc hình
thành. Đó là lúc một kênh dẫn điện mới
từ đám mây xuống đất đã được sáng tạo
(tạo lập). Nếu sự bảo vệ chống sét không
tốt, cú sét đánh lại rơi trúng vào một
mái nhà gỗ, thì căn nhà sẽ bốc lửa cháy.
Đó là hành Hỏa. Giả sử căn nhà bị cháy
rụi hoàn toàn ta có ngay hành Thổ. Tro
tàn sẽ sinh ra từ Hỏa.
Ví dụ 5. Nước Việt
Nước Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ 20
thuộc hành Thổ. Lúc ấy các phong trào
kháng Pháp đã bị dập tắt. Cả nước gần
như im lặng chịu sự khai phá thuộc địa.
Khoảng năm 1925 có phong trào thanh niên
cách mạng đồng chí hội. Hành Kim đang
dần dà được khởi động. Đó là trạng thái
của quá trình thu luyện năng lượng, tìm
tòi phương pháp đấu tranh mới. Lúc đó,
có sự tích tụ âm thầm các cá nhân yêu
nước thành các tổ chức đấu tranh mới.
Tiếp theo, là hành Thuỷ, khi mà các chi
bộ dần dần phát triển, cấy sâu vào các
khu vực, các vùng nông thôn và thành
thị. Khi các chi bộ đã lớn dần thì tạo
thành mạng lưới, các khu uỷ, các vùng an
toàn khu, dần dần có các lực lượng vũ
trang nhỏ (Ba tơ, Bắc Sơn, Tuyên
Quang,…). Lúc đó là thời của Mộc. Lực
lượng cách mạng ngày càng mạnh tức Mộc
ngày phát triển. Cách mạng 1945 là thời
của Hoả, thời của một trạng thái bừng
bừng, sôi động. Trạng thái Hỏa của nước
Việt duy trì mãi đến sau năm 1975. Trong
mấy chục năm đó, người người bừng bừng
ra trận, náo nức tham gia các phong trào
kiến quốc và cứu nước như ba sẵn sàng,
ba đảm đang,…
Các ví dụ khác về sự vận động của lịch
sử Việt nam đều là các minh họa về Ngũ
hành rất sống động, chẳng hạn các giai
đoạn tụ nghĩa của Khúc Hạo, Trần Thủ Độ,
Lê Lợi, Nguyễn Hoàng là hành Kim. Các
giai đoạn phát triển sau đó đều diễn ra
đúng trình tự Khai Thủy, Sinh Mộc, hoàn
thiện Hỏa rồi về Thổ. Lịch sử cũng chỉ
ra rằng đối với các triều đại kể trên
khi về Thổ thì rất điêu tàn và trong
lòng Thổ lại tụ sinh tích Kim các nhân
tố mới cho các quá trình lịch sử tiếp
theo.
Ví dụ 6. Thiền Trúc lâm Yên tử
Vua Trần Thái Tông thay thế Nhà Lý, chấn
hưng đất nước, trau dồi nhân phẩm, học
thông Nho, Lão, Phật, đánh giặc Nguyên
Mông lần thứ nhất, tích lũy tri thức đầy
đủ, quá trình đó gọi là tích Kim. Về già
nhà Vua nhường ngôi cho con, viết Khóa
hư lục, khai mở xu hướng tĩnh Tâm bằng
thiền. Đó gọi là khai Thủy. Sau đó, vua
Trân Nhân Tông lại tiếp tục dòng suy tư
Khóa hư lục của vua cha, lúc toàn thắng
giặc Nguyên Ngài đã về hẳn Yên Tử mở ra
trường phái Thiền Trúc Lâm Yên tử. Đó
gọi là sinh Mộc. Các vị sau đó như Pháp
Loa, Huyền Trang đã hoàn thiện tư tưởng
của Thiền Trúc lâm Yên tử. Đó gọi là
Hỏa. Sau đó là giai đoạn Thổ, Núi Yên Tử
dần thành di tích đến ngày nay, nhưng
Thiền phái Thiền Trúc Lâm vẫn sống trong
lòng người để rồi lại dần dần tụ sinh
các vòng Ngũ hành mới.
Các ví dụ trên đủ cho ta nhận thức được
về sự vận động theo Ngũ hành. Trong đó
giai đoạn này nối tiếp giai đoạn kia.
Không thể dùng ý chí chủ quan mà đi tắt,
mà đốt cháy lịch sử, đặc biệt muốn cho
sự phát triển của Hỏa được bền vững thì
luôn luôn phải tích KIM. Tích KIM là cơ
sở quan trong bậc nhất cho mọi sự phát
triển, và cũng là điểm khởi đầu của mọi
sự phát triển. Hình 2 mô tả các vòng Ngũ
hành liên tiếp theo lý thuyết mới. Ngẫm
nghĩ kỹ càng chúng ta sẽ thấy không có
một sự vận động nào trong vũ trụ đi ra
ngoài năm bước vận động Ngũ hành này
được.
Các ví dụ trên đủ cho ta nhận thức được
về sự vận động theo Ngũ hành. Trong đó
giai đoạn này nối tiếp giai đoạn kia.
Không thể dùng ý chí chủ quan mà đi tắt,
mà đốt cháy lịch sử, đặc biệt muốn cho
sự phát triển của Hỏa được bền vững thì
luôn luôn phải tích KIM. Tích KIM là cơ
sở quan trong bậc nhất cho mọi sự phát
triển, và cũng là điểm khởi đầu của mọi
sự phát triển. Hình 2 mô tả các vòng
Ngũ hành liên tiếp theo
lý thuyết mới. Ngẫm nghĩ kỹ càng chúng
ta sẽ thấy không có một sự vận động nào
trong vũ trụ đi ra ngoài năm bước vận
động Ngũ hành này được.

Hình 2. Năm giai đoạn của phát triển.
Tích Kim là điểm khởi đầu của vòng phát
triển. Thu vào (Kim), tản ra (Thủy) và
sinh mới (Mộc) là ba giai đoạn phát
triển đi lên. Hỏa là sự hoàn thiện. Tại
hành Hỏa có lối rẽ, hoặc là đi vào vòng
mới, hoặc là trở lui về tro tàn của hành
Thổ. Tích Kim liên tục sẽ tạo nên sự
phát triển bền vững. Nhưng trong tro tàn
của Thổ cũng sẽ có tích Kim, nhưng thụ
động và khó khăn.
Tóm lại lý thuyết Ngũ hành cho chúng ta
một cái nhìn động về sự vận động và phát
triển. Mọi sự phát triển đều có điểm gốc
là tích Kim. Hành Kim tích được càng
nhiều, càng bền vững thì các bước phát
triển tiếp theo càng bền vững. Đặc biệt
khi đã đạt đến trạng thái Hỏa thì nhất
định phải tìm kế để tích Kim các vòng
mới. Vì nếu không sẽ lâm vào trạng thái
Thổ.
Có thể tóm tắt lý thuyết Ngũ hành mới
thành các định đề sau:
1.Tất cả các sự vật trong tự nhiên và xã
hội đều vận động theo Ngũ hành, và mọi
sự vận động đều bắt đầu từ hành Kim.
2.Ngũ hành chỉ là 5 biểu tượng về 5 giai
đoạn biến đổi của sự vật. Năm giai đoạn
đó gọi là 5 phép biến hóa của tự nhiên.
Không có một quá trình vận động nào ra
khỏi 5 phép biến đổi ấy.
3.Tinh hoa văn hóa cốt lõi nhất, tiêu
biểu nhất của dân tộc Việt nam là Ngũ
hành và kỹ năng ứng dụng Ngũ hành vào
thực tế.
Trên cơ sở của lý thuyết Ngũ hành mới
này chúng ta sẽ phân tích nhiều về vấn
đề đang nổi cộm trong đời sống xã hội
Việt nam hiện tại.
CHƯƠNG II.
CÁC NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NGŨ HÀNH
2.1.SỰ KIỆT SỨC CỦA NÔNG THÔN VIỆT NAM
TRONG HỘI NHẬP
2.1.1.Làng cổ truyền hình tròn, nơi quần
tụ các giá trị vật chất và phi vật chất
của dân tộc Việt nam
Vấn đề tam nông, (nông dân, nông nghiệp,
nông thôn) là một vấn đề lớn của nước
ta. Vì hơn 70% dân Việt đang sống ở nông
thôn, làm nghề nông hoặc ít nhiều dính
dáng đến nghề nông. Không những thế vấn
đề tam nông còn cực kỳ phức tạp, vì nó
quan hệ đến mọi lãnh vực khác trong xã
hội, đặc biệt là việc xây dựng một chiến
lược phát triển bền vững.
Muốn xây dựng một chiến lược phát triển
cho vấn đề tam nông cần có bức phác họa
khái quát, không rườm rà, mà lại chứa
đựng được những xu thế vận động cốt yếu
đang vận hành trong lòng nông thôn,
trong nông nghiệp và cả trong lòng người
nông dân nữa.
Trước hết, ta hãy nhìn vào lịch sử. Phác
họa về nông thôn vài trăm năm trước là:
“Nông thôn ngày xưa được đặc trưng bởi
làng. Làng có lũy tre xanh bao bọc. Vào
làng phải qua cổng. Gần cổng làng thường
có cây đa, rồi giếng nước. Tại trung tâm
làng nhất định có đình làng, thờ Thành
Hoàng và các bậc tiên nho. Đâu đó trong
làng có vài ngôi đền, ngôi chùa. Trong
làng có vài tộc họ. Sinh sống thì bằng
làm ruộng là chủ yếu, có con trâu trên
đồng, vợ đi cấy chồng đi cầy. Trong làng
thường có các cụ đồ nho, lúc thường thì
dạy học, lúc vui buồn thì ngâm vịnh, đọc
thơ. Những người ra khỏi làng thì thường
bảo vệ cái danh dự của làng, nếu có mang
về điều gì thì phải là điều danh giá.
Nếu làm ô nhục làng thì thà chết tha
phương không về làng nữa. Sống trong
làng thì thương yêu đùm bọc nhau. Có
giận nhau thì cũng tìm cách hòa hoãn mà
giải quyết. Đa phần các làng đều có
hương ước, là “bộ luật dân sự” qui định
cách ứng xử của dân làng với nhau”
Ta hãy phân tích cấu trúc làng xưa của
nông thôn Việt nam. Lũy tre để bảo vệ
hữu hình về đất đai và an ninh. Giếng
nước để cung cấp nhu cầu thiết yếu hàng
ngày. Cánh đồng để lao động. Đời sống
văn hóa thì xảy ra nơi đình chùa miếu
mạo. Vậy làng là một xã hội nhỏ, bao
quát những nhu cầu quan trọng nhất về
cuộc sống vật chất và phi vật chất.
Làng đã tồn tại bền vững trên đất Việt
hàng ngàn năm qua và là hạt nhân cho sự
trường tồn của dân tộc ta qua bao biến
cố. Làng sở dĩ là hạt nhân trường tồn,
vì trong làng có đủ những yếu tố từ đơn
giản nhất đến yếu tố cao cấp nhất của xã
hội đương thời. Yếu tố đơn giản là lao
động làm ra hạt lúa, bó rau, con gà, con
lợn,... Yếu tố cao cấp nhất là cái nôi
học tập để duy trì và bồi dưỡng văn hiến
quốc gia, như sản sinh ra các điệu hò
vè, các phương pháp chữa bệnh, các làn
điệu dân ca, các nghệ thuật điêu khắc,
các vị sĩ phu... Làng là đơn vị hành
chính nhỏ nhất trong lịch sử, nhưng lại
chứa đựng toàn bộ những yếu tố cấu thành
của xã hội Việt cổ. Đặc biệt, trường
làng ngày xưa có thể đào tạo những người
đi thi một bước, đỗ tam nguyên, thành
trạng nguyên tiến sĩ, tức là làng còn là
tàng thư văn hóa cấp cao nhất của xã hội
nữa. Lao động trong làng nhằm đáp ứng
nhu cầu của cuộc sống vật chất, đôi phần
được trao đổi ra ngoài. Tinh hoa cuộc
sống tinh thần được tạo ra trong làng và
rồi ở lại để bồi đắp truyền thống của
làng. Cái phát tiết ra khỏi làng phần
lớn các các giá trị phi vật thể, và được
xem như tài sản chung của xã hội. Vậy
nông thôn xưa chính là cái nơi quần tụ,
bồi đắp và phát triển những yếu tố đặc
trưng nhất về vật thể và phi vật thể của
cả xã hội.
Cho nên chỉ cần nhìn bức tranh cổ mà
phác họa nên bức tranh mới, so sánh phân
tích là chúng ta thấy những biến động
nào đang làm cho nông thôn Việt nam đi
lên, những biến động nào đang làm cho
nông thôn tụt hậu. Dưới đây tập trung
phân tích những phác họa về nông thôn
Việt nam hiện nay theo quan điểm Ngũ
Hành.(1)
2.1.2.Bức tranh về làng dọc trục thời
hiện đại.
Ngày nay, làng không còn là đơn vị hành
chính cấp nhỏ nhất, mà là xã. Trong xã
cũng có đầy đủ các yếu tố điện đường
trường trạm, có UBND, HĐND, có nhà văn
hóa, có trường học cấp I và cấp II.
Nhưng một lượng lớn lao động trong xã đã
bươn trải ra ngoài địa bàn địa lý của xã
để kiếm sống. Phần lớn thanh niên trai
tráng đều đi học và đi làm xa. Họ ít có
điều kiện ở lại để hấp thu các giá trị
tinh thần cổ truyền, rồi thêm các giá
trị hiện đại vào để biến thành các giá
trị phi vật thể mới, bồi đắp cho nông
thôn. Cũng như thế, một cô gái đẹp lớn
lên trong xã ít có cơ may còn ở lại nông
thôn trở thành các hiền mẫu nuôi dưỡng
con cái trong nhà, bảo tồn các giá trị
ngoài xã, mà ngược lại phần nhiều phải
lên thành thị, trở thành phu nhân các
đại gia, hoặc giả đi làm vợ xa của người
Hàn quốc, người Đài loan, thậm chí cả
người Mã lai nữa.
Đời sống tâm linh nơi làng xã bây giờ có
phần nhạt. Người ta chủ yếu cúng bái vớ
vẩn. Đình làng không còn cái vẻ uy nghi
của nơi lưu trữ và truyền bá văn hiến.
Trường làng không còn là nơi bồi đắp các
kiến thức cao nhất đương thời. Nhà văn
hóa không phải là nơi cung cấp thông tin
sống động và thiết thực. Người dân trong
làng bây giờ phần lớn lo kiếm tiền nuôi
con, con học hành xong thì ra thành phố
làm việc. Vậy có thể đưa ra nét thứ nhất
của bức phác họa về nông thôn đương đại
là: Nông thôn không còn là nơi tàng trữ
và phát huy văn hiến mà đang vắt sức
nuôi thành thị.
Bây giờ nông thôn chủ yếu phát triển
theo dọc trục giao thông. Người ta thích
mặt đường, mặt ngõ. Mọi thứ đều bám vào
dọc trục mà sinh sôi phát triển, từ cửa
hàng bán vật tư nông nghiệp đến tiệm làm
đầu…Hình ảnh này như một cái xương cá có
bám lơ thơ vài mẩu thịt. Các mẩu thịt
ngày càng dày đặc lên, rồi lại làm cho
sự lưu thông dọc trục bị ùn tắc. Tai nạn
giao thông, các vấn đề về giải phóng mặt
bằng và nhiều vấn nạn khác cũng bám theo
dọc trục mà phát triển. Sự phát triển
theo dọc trục không những chỉ ở nông
thôn mà còn cả ở các thành phố cỡ trung
và cỡ lớn, chẳng hạn như Thanh Hóa, Ninh
Bình,… Sự phát triển dọc trục làm các
dòng chảy thông tin, dòng chảy vật chất
dễ đến mà cũng dễ đi. Có thể nói rộng ra
là nông thôn bây giờ không còn là nơi
quần tụ của các yếu tố vật chất và tinh
thần chủ yếu của xã hội theo kiểu tích
lũy mà đang bị chảy dọc trục. Chính vì
sự phát triển nông thôn không dựa trên
nền tảng của sự tích lũy, cho nên có thể
đoán nó đang đi đến trạng thái hụt hơi,
kiễng chân. Vậy đường nét thứ hai của
bức tranh nông thôn là: vắt sức nuôi
thành thị ngày càng nhiều mà sự bổ sung
nội tại cho tiềm lực nông thôn ngày càng
hụt.
Do vậy, bức phác họa đơn giản về nông
thôn Việt nam thời nay là:
- Phố quê dạng dài dọc trục đang thay
dần làng hình tròn bao bọc bởi lũy tre
và cánh đồng,
- Quá trình vắt sức nông thôn để cung
cấp cho thành thị ngày càng mạnh, quá
trình bồi đắp các giá trị văn hóa và
tinh thần ngày càng giảm.
Hai nhận định trên cho phép chúng ta
nhìn thấy quá trình kiệt sức nông thôn
đang ngày càng xảy ra mãnh liệt. Khoảng
cách giầu nghèo ngày càng giãn rộng chỉ
là hình thức bề ngoài của sự kiệt sức
đó. Muốn tìm một con đương phát triển
bền vững, luôn luôn có một quá trình bồi
đắp ngược từ thành thị về nông thôn cần
phải có một cơ sở lý luận. Cơ sở ấy phải
thỏa mãn đúng một cách phổ quát cho mọi
quá trình vận động phát triển, mà sự
phát triển nông thôn Việt nam trong giai
đoạn hiện tại chỉ là trường hợp riêng.
Vì vậy, chúng tôi tìm về học thuyết Âm
dương – Ngũ hành, để nghiên cứu căn cơ
của vận động và phát triển. Hy vọng học
thuyết ấy có thể cung cấp một cách nhìn
khác so với các phân tích hiện nay.
2.1.3Vấn đề nông dân, nông nghiệp và
nông thôn theo Ngũ hành
Lịch sử dân tộc ta là lịch sử đấu tranh
chống giặc ngoại xâm. Sức lực cơ bản để
dân tộc Việt nam tồn tại và đấu tranh
được tích lũy từ nông thôn. Tất cả những
gì chúng ta mang ra chống giặc, giữ nước
đều lấy từ nông thôn (trừ giai đoạn
kháng chiến 30 năm chống Pháp và chống
Mỹ là có sự viện trợ quốc tế). Nông thôn
đã tích lũy tất cả các giá trị vật chất
và tinh thần cho dân tộc ta trong cuộc
đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước
ngàn năm.
Cái làng hình tròn trong nông thôn xưa
là thuộc hành KIM. Bây giờ nông thôn đã
bị cấu trúc xương cá dọc trục giao thông
làm biến dạng. Cấu trúc ấy không phù hợp
cho sự tích lũy. Cấu trúc ấy chỉ phù hợp
cho hành THỦY và hành HỎA. Hành Thủy thì
thu vào sau đó tản ra ngay mà không có
chế biến. Hành Hỏa thì lúc nào cũng bừng
bừng như ngọn lửa, khi hết năng lượng
thì trở thành tro tàn nguội lạnh.
Như trên đã phân tích nguồn lực mà nông
thôn ngày nay tích lũy được thì phần lớn
chảy ngay ra thành thị. Nguồn nhân lực
sung mãn nhất không có điều kiện ở lại
để xây dựng nông thôn, họ cũng không có
điều kiện để tích lũy được thật nhiều
(tri thức và tiền của) ngay trong lòng
nông thôn. Như lý thuyết Ngũ hành đã
phân tích, nguồn gốc của mọi sự phát
triển phải là tích KIM. Muốn nông thôn
có thể tích KIM được cần phải làm những
việc sau:
a. Qui hoạch không gian hình dạng
Theo Ngũ hành thì hình xương cá không
phải là hình thể thuận lợi cho việc tu
tích. Phải qui hoạch lại các cụm dân cư
nông thôn theo dạng hình tròn hoặc gần
tròn. Mô hình mẫu về làng mới có thể như
sau. Giữa làng là một quảng trường, có
các công trình văn hóa, tâm linh, có trụ
sở internet, có thể thao,… Xung quanh
quảng trường là nhà dân và UBND, các cơ
quan chính quyền, các cơ sở thương mại.
Xa hơn nữa là trường học, các doanh
nghiệp sản xuất nhỏ, các cơ sở chế biến
nông sản, ngoài cùng là cánh đồng. Một
mẫu làng hình tròn như vậy để đảm bảo
cho việc tích Kim vật thể và tích Kim
phi vật thể. Việc qui hoạch nông thôn
thành nhiều cụm hình tròn phải được tính
toán kỹ càng, để các vòng xoáy chuyển
động của các dòng vật chất và thông tin
chậm lại trong phần trung tâm, sao cho
các dòng ấy có cơ hội tích lắng.
b.Tích Kim từ qui mô nhỏ
Biến đổi một khu dân cư từ dạng xương cá
thành dạng tròn không dễ dàng, vì vấn đề
sở hữu đất đai, vì quĩ đất có hạn. Cho
nên phải qui hoạch các mẫu làng kiểu mới
từ qui mô rất nhỏ. Mỗi tỉnh chỉ nên chọn
một vùng thuận tiện để qui hoạch một đô
thị nông thôn cỡ 1000 dân, trên qui mô
vài hecta. Cụm dân cư làng mới có thể
được chọn từ những miền đất không phải
là cánh đồng. Trong vùng mới này nhất
thiết phải chọn các cán bộ mới, trẻ, có
năng lực, có tâm huyết làm cốt lõi. Sau
khi qui hoạch vùng thì chỉ lựa chọn
những cư dân có tay nghề cao về sinh
sống. Họ vừa làm nghề nông, nhưng lại
vừa xây dựng văn hóa của khu mới, họ có
thể làm thêm các nghề thủ công khác nữa.
Cũng có thể lấy một công nghệ mới làm
trung tâm cho vùng đó. Ví dụ nghề trồng
hoa lan, trồng rau sạch, hoặc chế biến
đồ hộp cho các siêu thị. Dần dần khi mô
hình đó được thử thách, được bổ sung
điều chỉnh, thì mở rộng ra thành nhiều
làng mới trong tỉnh, trong nước.
c.Gạt bỏ cản trở xã hội
Tỉnh Phú Yên có chính sách đãi ngộ trí
thức về tỉnh công tác. Chính sách đó
không thu hút được nhiều nhân tài, mặc
dù rất cởi mở. Vì khi các trí thức về
tỉnh bị xếp đan xen vào hệ thống tầng
tầng lớp lớp cán bộ cũ. Cái cũ đã làm
hòa tan cái mới. Cán bộ mới không trở
thành các nhân tinh thể (crystal) khởi
mần cho tich KIM (Crystal Growing). Cán
bộ mới không phát huy tác dụng, họ chán
nản. Cho nên khi xây dựng mô hình tích
KIM mới, thì phải tạo điều kiện để các
cán bộ có tâm và tài tự nguyện về làng
và phát huy tối đa năng lực sáng tạo của
họ. Điều đó có nghĩa là trong làng mới,
“đô thị làng” thì hệ thống cán bộ phải
hoàn toàn mới, được tuyển chọn cẩn thận.
Làng mới đó không qua cấp hành chính
trung gian, mà phải trực thuộc thẳng cấp
tỉnh.
d.Dân chủ theo làng cổ
Làng cổ có hội đồng làng xã, gồm các vị
đương chức, các vị cao niên, các hưu
trí, các trí thức. Các quyết sách của
làng được thảo luận dân chủ ở đình làng.
Đó chính là tinh hoa văn hóa làng của
dân tộc ta. Ngày nay chúng ta đang xây
dựng dân chủ cở sở. Tuy chúng ta có
nhiều nỗ lực phát huy dân chủ cơ sở,
nhưng dân chủ cở sở ngày nay vẫn bị các
dòng họ lớn trong làng thao túng. Vì
vậy, trong làng mới cần phát huy cao độ
dân chủ ngay từ lúc lập mới, phải có
chính sách đặc biệt cho làng mới để dân
chủ không bị bóp méo. Chế độ bầu cử phải
là phổ thông tuyệt đối và trực tiếp. Dần
dần các tác phong dân chủ đó lan rộng ra
các làng xương cá khác. Dân chủ trong
làng mới sẽ là tấm gương để cải tạo dần
các hủ tục trong nông thôn hiện nay,
nâng dần dân trí và mức độ dân chủ trong
toàn xã hội.
e.Tích Kim công nghệ cho nông thôn
Theo lý thuyết Ngũ hành, việc tích lũy
hành KIM chủ yếu là tích lũy các giá trị
phi vật thể. Trong giai đoạn trước mắt,
Kim phi vật thể là công nghệ. Nông thôn
muốn phát triển không chỉ dựa vào cây
lúa và con lợn. Muốn có các sản phẩm
khác, phải có các giá trị công nghệ và
tri thức mới. Ví dụ kinh nghiệm nuôi ba
ba, nuôi tôm, trồng hoa phong lan, trồng
rau sạch, làm gốm, nấu thép, làm đồ mỹ
nghệ, đồ gỗ xuất khẩu…Tuy vậy, các giá
trị công nghệ đến được tay nông dân là
một việc khó khăn. Để công nghệ được phổ
biến rộng rãi phải có một quĩ công nghệ
ở cấp Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, tập hợp thành cơ sở dữ liệu, thành
các băng hình, các hồ sơ công nghệ chi
tiết. Nhà nước bỏ tiền ra mua công nghệ
đó, rồi bán rẻ lại cho nông dân theo giá
giảm dần. Khi các làng mới được thành
lập, thì nhất thiết phải là một làng
không thuần nông, phải là một làng công
nghệ, thậm chí trồng lúa và nuôi lợn
cũng phải ứng dụng công nghệ cao. Trong
làng phải có ít nhất một vài gia đình
(hoặc liên hộ) hoạt động công nghệ theo
hình thức doanh nghiệp, để triển khai
công nghệ mới. Các làng mới trong cả
nước phải được nối mạng với nhau để trao
đổi công nghệ, trao đổi thông tin nghề
nghiệp, và thương mại.
Quĩ công nghệ nông nghiệp là một hình
thức tích Kim ở qui mô quốc gia. Quĩ
quốc gia này cỡ 1000 tỉ đồng. Nhà nước
bỏ ra số tiền ban đầu ấy, mua lại của
các nhà khoa học, của những người nông
dân làm ăn giỏi, thậm chí của nông dân
nước ngoài như Thái Lan, Trung quốc...
Nhưng để tạo điều kiện cho công nghệ đến
tay người nông dân, còn phải có đối
tượng tiếp thu. Do đó trong các làng mới
cần có trường nghề. Trường nghề là khâu
quan trọng trong quá trình chuyển giao
công nghệ. Nếu mỗi tỉnh có một làng mới
(hình tròn, tích Kim), mỗi làng mới có
một trường nghề qui mô nhỏ, thì chúng ta
sẽ có trong tay 64 trường dạy nghề qui
chuẩn. Các trường nghề đó dạy cho thanh
niên (có thể cả người lớn nữa) các công
nghệ thích hợp với đặc điểm từng vùng
miền. Các trường nghề chỉ dạy thực hành,
liên tục mở theo yêu cầu, nặng về thực
tế mà không chú trọng bằng cấp. Tính
năng động của trường nghề cấp “đô thị
làng” phải đạt mức linh động như các
trung tâm ngoại ngữ hiện nay. Tuy vậy
bằng cấp mà trường đó phát ra phải có
nhiều chủng loại. Nếu bạn chỉ học qua
vài tuần để biết hàn, tiện, trồng hoa,
nuôi cá,… thì được cấp giấy chứng chỉ.
Nếu bạn làm luận án tốt nghiệp trên cơ
sở các dự án thực tế để mở mang doanh
nghiệp nông thôn thì được cấp bằng tốt
nghiệp trường nghề cấp quốc gia. Cao hơn
nữa bạn có thể thực hiện các đề tài
nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới qui mô
quốc gia, bằng cách liên kết với các hệ
thống Trường và Viện nghiên cứu trong cả
nước.
Các trường nghề trong “đô thị làng”
chính là một hình thức tích Kim phi vật
thể cho nông thôn một cách nhanh chóng
và hiệu quả nhất. Nó sẽ thay thế các
trường làng xưa của các cụ đồ nho và các
vị sỹ phu.
Ngoài ra, việc tích KIM công nghệ cho
“đô thị làng” còn phải kể đến internet.
Mỗi đô thị làng phải là một trung tâm
internet. Internet phải được bảo trì và
nâng cấp thường xuyên, để nó thực sự là
nơi cung cấp thông tin công nghệ nhanh
và đầy đủ nhất cho chính “đô thị làng”
đó và các vùng nông thôn phụ cận.
Các “đô thị làng“ là nơi mà chúng ta có
thể bỏ dần một hoặc hai chữ nông trong
tam nông, thay vì “nông thôn, nông
nghiệp và nông dân” sẽ là “nông thôn,
công nghiệp và trí thức áo nâu”. Phép
xây dựng các “đô thị làng” chính là tích
Kim để đô thị hóa nông thôn. Trong một
hai năm đầu chúng ta có 64 “đô thị làng”
nhưng sau 4-5 năm thì con số đó sẽ trở
thành hàng ngàn.
f.Tích Kim tự phát trong nông nghiệp và
nông thôn
Phần trên đã trình bày một số ý tưởng về
tích Kim trong nông nghiệp và nông thôn.
Các ý tưởng đó có thể được chấp nhận hay
không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố và
chắc chắn phải qua rất nhiều thảo luận.
Vì các ý tưởng đó đều mang mầu sắc ý chí
chủ quan. Tuy vậy thực tế cuộc sống rất
sinh động, nhiều khi chưa cần qui hoạch
của chính phủ, thì trong nông thôn đã có
các hình thức tích Kim tự phát rất thành
công. Ví dụ công trình tích Kim các làng
nghề cổ truyền trong khu vực Mạo Khê do
Bà chủ Gốm sứ Nguyễn Thị Vinh khởi
xướng. Cách đây 10 năm bà thuê một khu
đất lớn trên cung đường Hà nội – Hạ
long. Tại đó bà xây dựng các khu làng
nghề, rồi mời các nghệ nhân làng nghề
gốm Bát tràng, lụa Hà Đông, mây tre đan
đến tập trung làm việc và giao thương
tại đó. Bây giờ thêm Internet và các
dịch vụ xuất nhập khẩu trực tiếp khu bảo
tồn làng nghề Mạo Khê đã phát triển
nhanh chóng và tạo một đầu ra xuất khẩu
lớn không chỉ cho làng gốm mà còn nhiều
làng nghề thủ công khác.
Các phố cổ Hà nội, mang tên Hàng Bút,
Hàng Đồng, Hàng Lọng,… đều là các ví dụ
về tích Kim tự phát. Sự phát triển của
các phố Hàng đó bền vững vài trăm năm.
Chỉ từ sau khi nước ta bị Pháp xâm lược
thì các phố Hàng mới lụi dần.
Tuy vậy sự tích Kim tự phát thiếu qui
hoạch sẽ gây tình trạng quá nóng. Ví dụ
phong trào nuôi tôm, nuôi cá lồng là
những ví dụ về tích Kim quá nóng. Sự
tích tụ mật độ quá lớn nên gây mất cân
bằng sinh thái và dẫn đến nhiều hậu quả
xấu về môi trường, về sản phẩm đầu ra,…
Vì vậy, ở qui mô quốc gia cần phải có
qui hoạch tích Kim cho nông thôn theo
hướng tập trung những thành tựu cao nhất
về quản lý đô thị, về qui hoạch nghề, về
giáo dục, văn hóa, chuyển giao công
nghệ… để các đô thị làng thực sự trở
thành vùng tích Kim kiểu mẫu bền vững.
g.Tản Thủy, Sinh Mộc và Hoàn thiện Hỏa
Các phần trên tập trung nghiên cứu vấn
đề tích Kim cho nông thôn. Một khi đã có
các “đô thị làng” hành Kim thì sự vận
động của các vòng Ngũ hành sẽ dần dần đi
vào quĩ đạo tự nhiên. Nông thôn sẽ dần
dần đổi mới. Tuy vậy, trong thời gian
hình thành nhân tố mới, (các đô thị
làng) thì còn rất nhiều vấn đề riêng lẻ
trong khu vực kinh tế xã hội ở thôn thôn
cần phải giải quyết. Khi giải quyết các
vấn đề đó cần ứng dụng các nguyên lý vận
động Ngũ hành để đánh giá hiện trạng,
tìm nguyên nhân, và dự báo hướng phát
triển. Cuối cùng vẫn phải đặt các vấn đề
riêng biệt đó vào bối cảnh chung của cả
vòng Ngũ hành rộng hơn, bao trùm hơn.
Chẳng hạn, vấn đề chế biến sau thu
hoạch. Đây là vấn đề tích Kim ở qui mô
nhỏ, qui mô các nghiên cứu triển khai.
Phải làm chủ được các công nghệ sau thu
hoạch. Có thể được giải quyết bằng Quĩ
công nghệ, cũng có thể được giải quyết
bằng các đề tài nghiên cứu độc lập. Vấn
đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông
nghiệp, thương mại hóa sản phẩm ở qui mô
khu vực hoặc quốc tế chính là bài toán
hoàn thiện hành Hỏa. Chẳng hạn, một sản
phẩm tiềm năng như “nước mắm Phú Quốc”,
nếu xét theo Ngũ hành, thì đương trong
quá trình vận hành qua hành Hỏa, cần
phải hoàn thiện về mọi mặt để nó giữ
vững thương hiệu. Giống lúa lai “bất dục
đực trên cơ sở thời gian cảm quang thay
đổi” đã được sinh thành do tích Kim bền
bỉ của các nhà nghiên cứu giống, nay đã
đi vào hành Mộc, cần phải có chiến lược
để thúc đẩy nó nhân rộng. Điều đó chính
là đưa giống lúa lai mới ấy vào hành
Hỏa, phải cấp đủ năng lượng để duy trì
Hỏa của giống lai, bằng một hệ thống
chính sách,… Tóm lại dưới quan điểm mọi
vận động đều theo ngũ hành, chúng ta có
thể phân tích, đánh giá, lường trước các
động thái, để ý chí chủ quan không đi
ngược lại qui trình vận động tự nhiên.
Bằng cách đó chúng ta có thể tìm ra hệ
thống chính sách cho sự phát triển nông
thôn.
2.1.4.Kết luận về Ngũ hành trong nông
nghiệp
Điểm xuất phát của chúng tôi trong
nghiên cứu này là cái nhìn lịch sử. Làng
hình tròn ngày xưa, nơi tích tụ và hun
đúc các giá trị vật chất và phi vật chất
cốt lõi nhất của nước Việt đang bị thay
dần bởi các phố quê hình xương cá. Theo
Ngũ hành thì làng hình tròn thuộc hành
KIM, còn làng xương cá thuộc hành THỦY.
Hành thủy sẽ vắt kiệt quệ tiềm lực của
nông thôn ra thành thị. Vậy phải tích
Kim chủ động cho nông thôn bằng những nỗ
lực tập trung của Chính phủ. Cụ thể:
-Xây dựng các “đô thị làng” để đô thị
hóa nông thôn từ các làng hành KIM nhỏ,
mới, tích tụ công nghệ chính là giải
pháp hiệu quả nhất, chủ động nhất.
-Xây dựng Quĩ Công nghệ quốc gia cho
nông thôn,
-Xây dựng các trường nghề đặc biệt cho
nông thôn.
-Liên kết công tác qui hoạch chiến lược
giữa các bộ Nông nghiệp & Phát triển
Nông thôn, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Tổng
cục dạy nghề, Đoàn Thanh niên CS HCM,
các UBND Tỉnh để xây dựng một chính sách
nhất quán tạo đường ray và hành lang
pháp lý cho sự tích Kim đô thị làng.
2.2.CÁC VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI
2.2.1.Phác họa về thực trạng giáo dục
Trong thời gian qua Giáo dục Việt nam đã
đạt được những thành tựu rất quan trọng.
Từ chỗ là một dân tộc mất nước và đa
phần mù chữ, nay nước ta là một nước có
độ phổ cập chữ viết vào mức cao. Nhiều
người Việt nam có những công trình khoa
học đạt tầm thế giới. Tuy vậy, nước ta
chưa phải là một nước có nền kinh tế tri
thức. Theo định nghĩa thông thường, nền
kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sản
phẩm của nó tạo ra chứa đựng hàm lượng
tri thức cao. Để đánh giá chất lượng
giáo dục phải đánh giá được lượng tri
thức có trong các sản phẩm mà nền kinh
tế đang tạo ra.
Trước hết, chúng ta hãy xem xét các nhóm
sản phẩm chính của nền kinh tế hiện nay,
các nhóm sản phẩm đóng góp vào sự ổn
định kinh tế và xuất khẩu:
-Nhóm sản phẩm nông nghiệp:
Nước ta xuất khẩu gạo vào hạng nhì thế
giới, nhưng lượng tri thức nằm trong hạt
gạo xuất khẩu chỉ chiếm phần nhỏ ở khâu
giống lai, và một ít máy móc chế biến.
Còn lại hạt gạo vẫn được sản xuất ra từ
các loại hình lao động thủ công đòi hỏi
lao động phổ thông là chính. Các sản
phẩm nông nghiệp khác khác như cao su,
cà phê, hạt tiêu, hải sản, đồ mỹ nghệ
mây tre, đồ gỗ cũng chứa hàm lượng tri
thức thấp.
-Nhóm sản phẩm công nghiệp:
Tương tự như các sản phẩm nông nghiệp,
chúng ta xuất khẩu các sản phẩm công
nghiệp như dệt may, da giầy, cáp điện
cũng ở mức hàm lượng tri thức thấp. Các
sản phẩm cao cấp như đồ gia dụng, điện
tử, cơ khí cũng vậy, chủ yếu là nhập
khẩu công nghệ cũ. Một vài khu công
nghiệp có đầu tư 100% vốn ngoại có sản
phẩm rất cao cấp, nhưng chỉ thuê lao
động ấn nút là chính.
-Nhóm sản pẩm công nghệ cao và sản phẩm
văn hóa giải trí:
Các sản phẩm công nghệ cao gần như chúng
ta đang phải nhập khẩu, chúng cũng ít có
các sản phẩm văn hóa và giải trí đạt
trình độ xuất khẩu.
Do vậy có thể nói nước ta còn lâu mới
được gọi là nền kinh tế tri thức. Thực
vậy, chúng ta đang còn phấn đấu lâu dài
để công nghiệp hóa cơ mà. Khoảng cách
tụt hậu so với các nước khác ngày càng
tăng. Như vậy có thể nói chất lượng giáo
dục và đào tạo còn thấp.
Rút ngắn lại khoảng cách tụt hậu, vươn
tới nền kinh tế tri thức là nhiệm vụ của
giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện
nay. Tức là, Giáo dục và Đào tạo phải có
nhiệm vụ làm cho người dân đủ kiến thức
để lao động ngày càng sáng tạo hơn, làm
ra các sản phẩm ngày càng khó hơn, ngày
càng tinh xảo hơn.
Nhưng xã hội ngày một cạnh tranh mạnh
hơn, cạnh tranh ở qui mô toàn cầu nữa.
Vì vậy giáo dục không những chỉ dạy cho
người ta lao động sáng tạo, mà còn dạy
cho người ta biết đoàn kết trong lao
động, cũng như đã từng đoàn kết trong
đấu tranh giữ nước. Do vậy, nhiệm vụ thứ
hai của giáo dục là bồi đắp nhân cách để
lao động trong hợp tác và thương yêu con
người.
Xét hai nhiệm vụ mang tính chiến lược
đó, thì hiện trạng giáo dục của nước ta
còn rất nhiều bất cập. Ví dụ chương
trình sách giáo khoa thay đổi liên tục,
ngày càng phức tạp hơn, càng nặng nề
hơn, máy móc hơn, đang đi ngược lại xu
hướng nâng cao khả năng sáng tạo. Phong
trào dạy thêm, học thêm đã đến mức độ ào
ào như sôi. Điều đó ngày càng làm giảm
khả năng hợp tác của thanh niên, nâng
cao tính ích kỷ cá nhân, mà lại làm giảm
lòng yêu thương con người.
Chỉ xét hai nét phác họa ấy, sách giáo
khoa và dạy thêm, chúng ta thấy thực
trạng giáo dục đang còn rất xa mục tiêu
chiến lược thực sự của giáo dục. Còn các
vấn đề khác như bệnh thành tích, bệnh
gian lận thi cử, đạo đức người thầy suy
giảm,… chỉ là các biểu hiện bên ngoài
tất yếu của xu hướng rời xa tiêu chiến
lược mà thôi.
Để tìm phương thuốc cho giáo dục chúng
ta phải xây dựng một cơ sở lý luận về
nhận biết, đánh giá và dự báo tiến trình
phát triển hay tiến trình vận động. Vì
giáo dục cũng như mọi vấn đề xã hội và
tự nhiên khác đều luôn luôn vận động.
Trong nghiên cứu này trước hết chúng tôi
lùi xa vào quá khứ của khoa học nhận
biết, tóm tắt khoa học nhận biết đó
thành một công cụ tư duy và phân tích.
Sau đó, dùng công cụ ấy để xem xét vấn
đề giáo dục của nước ta. Cuối cùng đề
xuất một vài ý kiến nhỏ để sửa chữa
những khúc mắc trong giáo dục hiện nay.
2.2.2.Bài toán giáo dục Việt nam
Vận dụng lý thuyết Ngũ Hành, chúng ta
xét ngay vào biểu tượng chung nhất của
giáo dục, đó là trường học, lá phổi của
mọi xã hội. Trường học dưới mọi hình
thức không thể thiếu được các yếu tố
sau: sách, bút (trang thiết bị giáo dục
nói chung), thầy và trò. Trò đến trường
để tiếp thu, tức là đến trường để tích
Kim. Sách, bút, thầy là công cụ phục vụ
cho hành vi tiếp thu, hay phục vụ cho
tích Kim. Hiện nay, có thể nói công cụ
phục vụ cho hành vi tích Kim của trò
không hoàn toàn tương xứng với nhu cầu
thực tế, có nhiều biểu hiện xuống cấp
trầm trọng. Sách thì lạc hậu, rườm rà,
vừa thừa khối lượng kiến thức lại vừa
thiếu dòng chảy logic. Bút (trang thiết
bị giáo dục) cũng trong thái bất cập như
sách. Người ta còn lợi dụng việc sản
xuất sách và bút vì nhiều mục đích rất
cá nhân. Và một bộ phận không nhỏ thầy
thì bị tụt hậu cả về kiền thức lẫn tư
cách. Những yếu kém về sách, bút và thầy
kể trên là cản trở lớn nhất làm cho giáo
dục không thực hiện tốt được nhiệm vụ
chiến lược của ngành là “đào tạo ra
những con người lao động sáng tạo, biết
hợp tác và thương yêu con người”.
Mặt khác, nếu coi nhà trường là cơ sở để
học trò đến đó thực hiện hành vi tích
Kim, thì nhà trường còn tồn đọng nhiều
vấn đề nan giải. Trường học xưa của
Khổng tử, nhiều khi chỉ là một mái
tranh, một gốc cây, thậm chí có khi là
một bãi trống trên con đường thiên lý.
Thầy trò Khổng tử vừa lưu hành vừa học.
Họ học ngay trong thực tế, họ quan sát
và luận giải các bài toán có thực trong
đời sống. Họ đến trường của Khổng tử vì
bị hấp dẫn bởi nhân cách và trí tuệ của
Ông, lại bị thôi thúc bởi lòng ham hiểu
biết của con tâm mình nữa. Trường học
ngày nay khang trang hơn rất nhiều nhưng
hai yếu tố lực hấp dẫn từ nhà trường và
lòng thôi thúc từ nội tâm rất phân tán.
Cho nên, muốn tìm lối ra cho bài toán
giáo dục Việt nam, cần làm thay đổi mạnh
trong nhận thức của cả người học và
người dạy. Dưới đây là vài ý kiến về ứng
dụng Ngũ hành trong Giáo dục:
a.Xây dựng trường thành cơ sở tích Kim
Đa phần các trẻ nhỏ đi mẫu giáo rất háo
hức. Đến trường chúng ăn hết bát cơm to
mà không bị mẹ vừa bón vừa mắng. Vì
trong trường mẫu giáo chúng được vui
đùa, được khám phá thế giới và được yêu
thương. Ba yếu tố đó, (chất lượng/số
lượng của niềm vui học tập, sự khám phá
thế giới và được yêu thương), giảm dần
trong các trường cấp I, cấp II, cấp III.
Thậm chí ở Đại học, chỉ còn một số lượng
nhỏ sinh viên ham khám phá.
Thiếu ba yếu tố đó người ta không tích
Kim được, đặc biệt khi còn nhỏ khi mà
hành vi tích Kim chưa mang tính tự ý
thức.
Vì vậy muốn xây dựng trường thành cơ sở
tích Kim cần thiết phải xây dựng từ nền
tảng ba yếu tố đó.
-Niềm vui học tập
Về kiến trúc, phải xây dựng trường học
có đủ chỗ học và chỗ chơi, có vườn rộng,
sân thể thao, bể bơi, thư viện,... Nhưng
chúng ta còn nghèo nên sẽ xây dựng từ
từ. Trong 20-50 năm nữa sẽ dần dần xây
dựng xong các trường, có đủ chỗ học và
chỗ chơi, trong phạm vi cả nước. Hiện
nay, nên bắt đầu xây dựng một số trường
điểm ở các tỉnh lân cận Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh. Vì trong trung tâm hết
đất. Mà hơn nữa cần xây dựng các trường
điểm đó trong kh vực nông thôn, để góp
phần tích Kim cho nông thôn (4).
Về sách, thì phải biên soạn sao cho đọc
sách là một niềm vui, đọc sách mà như
chơi trong khu vườn tri thức. Do đó, cần
tổ chức biện soạn dần dần lại một số
sách giáo khoa. Gần đây nhà nước tốn rất
nhiều tiền biên soạn sách giáo khoa mới,
nhưng các sách mới đó rất rườm rà, rất
khô khan và rất khó nữa. Nhà nước chỉ
cần ra một khung sườn chung về chương
trình sách giáo khoa, ai có tài cứ biên
soạn, cuối cùng chính người dùng sẽ là
người lựa chọn chính xác nhất về sách
giáo khoa, chứ không phải chỉ có hội
đồng Giáo sư lựa chọn.
Về thi, thì phải cải cách triệt để. Nếu
thi để làm quan như xưa, mỗi kỳ thi chỉ
lấy một trạng nguyên, vài chục vị tiến
sỹ, vài trăm cử nhân, thì có thể giữ
cung cách thi như hiện nay. Nhưng để
tích Kim thì không nhất thiết phải tổ
chức các kỳ thi mang tính quốc gia, đồng
thời trên cả nước. Học trò có thể thi
bất cứ lúc nào, chỉ cần đăng ký trước để
nhà trường khỏi bị động. Có thể thi đi
thi lại bao nhiêu lần cũng được, miễn là
anh trả lời được các câu hỏi thi. Như
vậy, người giỏi có thể học nhanh thì
được thi sớm, người kém phải học chậm
thì thi muộn, và có thể thi nhiều lần.
Kết quả sẽ giống nhau vì anh cùng tích
được một khối lượng kiến thức tương
đương nhất định. Nếu tổ chức thi như vậy
thì hai căn bệnh (bệnh thành tích và
bệnh gian lận thi cử) sẽ dần dần giảm
đi. Thi như vậy chính là đảm bảo niềm
vui trong học tập.
-Khám phá thế giới
Học chính là quá trình khám phá thế giới
xung quanh. Khẩu hiệu học suốt đời cũng
chỉ nhằm khám phá mãi mãi, nhất là khi
thế giới xung quanh ta thay đổi ngày
càng nhanh, càng mạnh. Khám phá thế giới
cũng chính là các bài học về sáng tạo.
Giáo trình, hay sách giáo khoa phải được
biên soạn theo hành trình khám phá cái
chưa biết, hành trình mà tổ tiên đã tìm
ra tri thức. Bài thi tốt nghiệp của các
lớp từ cấp III trở lên nên được gắn chặt
với thực tế. Ví dụ một học trò biết dùng
kiến thức tổng hợp làm một bài tập lớn
trong quá trình khám phá sự thay đổi của
dòng chảy sông Tô Lịch chẳng hạn, thì
bài tập lớn đó đáng giá một bài tốt
nghiệp, còn hơn cả các điểm 10 về văn,
toán, vật lý, địa lý, lịch sử và sinh
học. Vì khi làm bài tập lớn đó em đã sử
dụng kiến thức tổng hợp của các môn kia.
Khám phá thế giới phải gắn chặt với toàn
bộ quá trình học tập từ nhỏ (mẫu giáo)
cho đến tận đại học. Điều đó không chỉ
buộc người ta phải thay đổi chương
trình, sách giáo khoa, giáo trình, cách
học, cách dạy, mà còn giúp người ta học
cách tư duy sáng tạo nữa.
-Yêu thương
Nhà trường có cần phải dạy người ta yêu
thương và hợp tác hay không? Hãy xét ví
dụ cổ về hai học trò của Quỉ Cốc Tiên
Sinh là Tôn Tẫn và Bàng Quyên. Có lẽ Quỉ
Cốc Tiên Sinh chỉ dạy họ binh pháp mà
không dạy họ phải yêu thương nhau như
huynh đệ chăng. Trên thực tế họ dùng
toàn bộ tài năng quân sự đã học được để
tranh đấu với nhau. Cuối cùng, Tôn Tẫn
giàu lòng yêu thương hơn nên thắng, mặc
dù tài năng của hai người được xem là
tương đương.
Bao nhiêu thăng trầm đã qua từ hồi đó.
Nếu họ yêu thương nhau thì có khi cuộc
chiến tương tàn đã không xảy ra và lịch
sử nước Tầu đã khác bây giờ nhiều lắm.
Từ ví dụ đó chúng tôi quả quyết trong
nhà trường phải dạy người ta biết thương
yêu nhau. Học để thương yêu và thương
yêu mới học được. Thực vậy, lý thuyết
Ngũ hành đã chỉ ra rằng mọi sự tích Kim
đều bắt đầu từ “tâm”. Nếu con tâm đố kỵ,
ghen ghét, ác độc thì sự tích Kim được
rất ít, đặc biệt chỉ tích Kim được một
khía cạnh (tài hoặc tiền chẳng hạn). Lẽ
ra phải xem môn học “yêu thương” là môn
quan trọng nhất trong nhà trường, nhưng
hiện nay không có một giáo trình nào về
môn đó. Tuy vậy, chúng ta chỉ có thể sửa
chữa khiếm khuyết này một cách từ từ,
không thể làm bằng cách đảo lộn. Chính
phép cho thi đi thi lại nhiều lần là
phép dạy học trên nguyên lý yêu thương.
Vì một người năng lực kém hơn, không nên
được thi trong cùng điều kiện với người
năng lực dồi dào. Phép thi cử hiện nay
chính là cách đua ngựa kiểu Điền Kỵ nước
Tề xưa.
Thỏa mãn 3 điều kiện trên chúng ta đã có
thể xem như là đã xây dựng nhà trường
thành cơ sở tích Kim của xã hội.
b.Cá nhân tích Kim, hoạt động trung tâm
của nhà trường
Theo chương trình hiện nay, một học trò
phải học 12 năm phổ thông và 5 năm đại
học. Như vậy họ có 17 năm ngồi trên ghế
nhà trường để tích Kim. Trong những năm
đầu đời, họ chưa ý thức được sự cần
thiết của hành vi tích Kim, nhà trường
cần phải có kỷ luật cao và học phí thấp,
nhằm giúp họ biết cách tích Kim. Từ
khoảng cấp III thì học phí và sự tự do
có thể tăng dần. Điều đó cho phép một
người nghèo có ít tiền, mà lại có quyết
tâm lớn có thể học xong chương trình 3
năm trong 1 năm hoặc có thể nhanh hơn
nữa. Đó chính là nguyên lý công bằng.
Như đã nói trong mục nghiên cứu về sự
thở, cứ nơi nào có thu vào và tản ra thì
sẽ có sinh mới. Nhịp điệu của thu vào và
tản ra quyết định khả năng và tốc độ
sinh mới. Nhịp điệu đều đặn, sâu, hơi
nhanh cùng với cơ chế chọn lọc tốt sẽ
quyết định sự sinh mới hiệu quả hơn
những nhịp điệu thưa và nông. Do đó, để
giúp cho cá nhân học trò tích Kim một
cách hiệu quả cần đổi mới cách học và
cách thi trong nhà trường. Thay vì, một
nhịp điệu tản ra thưa được đánh dấu bởi
kiểm tra giữa kỳ và cuối học kỳ thì
chúng ta nên tổ chức các kỳ kiểm tra
liên tục hàng tuần. Hơn nữa mỗi tháng
phải tổ chức các buổi trình bày trước
lớp nữa. Đó chính là các cuộc thi vấn
đáp.
Cuối mỗi năm, kết quả học tập được đánh
giá bằng hai cách: các bài thi kiểu
truyền thống và các bài thi về kết quả
sáng tạo. Bài thi sáng tạo là mỗi học
trò phải tìm hiểu các vấn đề thực tế và
đề xuất cách giải quyết của riêng mình.
Học trò nào có bài thi sáng tạo tốt thì
được đánh giá bằng hệ số 3 hoặc 4 so với
các bài thi bình thường. Như vậy có thể
đánh giá sức học của học trò bằng hành
Mộc. Học trò nào có khả năng sinh Mộc
tốt có thể thẳng tiến mà tốt nghiệp sớm.
Giáo dục và đào tạo theo cách này có thể
giải quyết nhanh về nguồn nhân lực đáp
ứng nhu cầu phát triển nhanh của nền
kinh tế hiện nay.
Đánh giá sức học bằng khả năng sinh hành
Mộc còn là công cụ tốt để thúc đẩy sự tự
học trong học sinh và sinh viên. Theo đó
chúng ta có thể tìm thấy những nhân tài
nhỏ tuổi như Nguyễn Hiền hoặc Lương Thế
Vinh.
Cuộc đời của mỗi con người thực chất là
một quá trình tích Kim liên tục. Ở qui
mô vật thể đó là sự thở (để duy trì sức
sống nội tại), và sự tích Kim tiền (để
sinh sống hàng ngày). Ở qui mô phi vật
thể đó là sự tích tụ tri thức và nhân
cách. Có người tích Kim nhanh và toàn
diện, có người tích chậm và không toàn
diện. Học và thi như hiện nay không cho
phép phân lập các cá nhân theo khả năng
tích Kim. Cho nên chỉ cần thay đổi cách
thi, cách học, chúng ta sẽ làm phát lộ
nhiều nhân tài.
c.Người thầy, vấn đề sống còn của nền
giáo dục
Dân tộc nào có những bậc thầy lớn thì
dân tộc đó chóng lớn mạnh. Một số lý
thuyết giáo dục mới coi học trò như là
trung tâm của nhà trường. Nhưng lý
thuyết giáo dục nào cũng không phủ nhận
được vai trò người thầy. Người thầy đóng
vai trò kép, đối với học trò ông ta phải
là tấm gương tích Kim, đối với gia đình
ông là người lao động. Do đó ông cần có
lương, nhất là trong giai đoạn hiện nay
ông phải có lương cao hơn những nghề
nghiệp khác nữa. Nếu ông chỉ có ba cọc
ba đồng thì ông dễ có nguy cơ áp dụng
các biện pháp phi nhân cách để có thêm
tiền (chẳng hạn nhận phong bì để nâng
điểm). Nhiều người lầm lẫn giữa tính thị
trường của giáo dục và lương của thầy
giáo. Ngay cả khi thị trường đã phát huy
tối đa công năng của nó thì vẫn có những
thầy nghèo vì không phải là thầy giỏi.
Thầy muốn giầu thì phải giỏi. Ngày nay
có nhiều vị mang hàm Giáo Sư mà không
giỏi (lắm!), vì không có cơ chế để học
trò được tự do theo học những giáo sư
thực sự giỏi.
Do vậy muốn cải cách vấn đề tiền lương
của người thầy chúng ta phải thay đổi
triệt để cách tổ chức nhà trường. Thầy
có quyền tự do luân chuyển và đến dạy ở
bất kỳ trường nào phù hợp với hoàn cảnh
của mình, học trò có quyền tự do xin học
với các thầy giỏi. Thậm chí học trò có
thể chỉ học ở lớp tư của một thầy giỏi
nào đó, không nhất thiết phải đến
trường, miễn là học trò ấy thi đạt kết
quả. Sự tự do luân chuyển đó chính là
nguyên lý lựa chọn tối ưu của quá trình
tích Kim. Các học trò giỏi xưa thường
theo học các Ông Nghè danh tiếng là ví
dụ của nguyên lý tích Kim lựa chọn tối
ưu đó.
Nếu cải cách như vậy thì chúng ta có thể
giải quyết triệt để vấn đề học phí và
tiền lương giáo viên, mà chi phí ngân
sách cho giáo dục ở qui mô quốc gia sẽ
tiết kiệm. Và cũng chính phép tự do luân
chuyển đó sẽ giúp cho các bậc thầy vĩ
đại xuất hiện.
d. Ngũ Hành và một Đại học mới
Trong tài liệu này chúng ta đã bàn về
một số biện pháp tích Kim. Tích Kim cá
nhân lấy trọng tâm là tích Kim phi vật
thể để xây dựng nhân cách. Tích Kim
Doanh nghiệp lấy trọng tâm là tích Kim
công nghệ và nhân sự. Tích Kim vùng bằng
cách tìm hiểu rõ các vòng Ngũ Hành của
vùng, sau đó đề ra các biện pháp cụ thể,
để tiệm cận đến tích Kim của vùng. Bây
giờ chúng ta bàn về việc tích Kim qui mô
lớn thông qua một Đại học mới.
Tích Kim qui mô lớn về một phương diện
nào đó chính là tích Kim của cả nước.
Cao hơn nữa là tích Kim hoàn cầu.
Xưa nay việc tích Kim ở qui mô toàn cầu
bị các tiến trình lịch sử qui định. Vì
thực tế các chính phủ có ý chí khác
nhau, khó mà có thể thống nhất ý kiến
giữa các chính phủ để tích Kim cho cả
nhân loại.
Nhưng trong một nước thì chính phủ có
thể hướng các hoạt động tích Kim cá
nhân, tích Kim doanh nghiệp và tích Kim
vùng theo một dòng chảy tương đối đẳng
phương.
Nước Việt nam ta trong các giai đoạn
kháng chiến chống quân Nguyên Mông là
những lúc mà các dòng tích Kim chảy
tương đối đẳng phương.
Hiện nay không như vậy. Nỗ lực của chính
phủ là khởi sinh các vòng thuận, trong
khi đó tham nhũng lại vận hành các dòng
ngược. Hơn nữa, tham nhũng quyền lực mới
là các dòng ngược mạnh mẽ.
Vậy nên, dưới đây trình bày một số ý
tưởng về tích Kim qui mô lớn, qui mô
quốc gia, đặng sao cho các dòng thuận
dần lớn lên, lấn át dần các dòng chảy
ngược.
Lịch sử tiến bộ của nhân loại chính là
lịch sử của công nghệ hiểu theo nghĩa
rộng, trong đó cách tổ chức xã hội cũng
là công nghệ nữa. Nếu công nghệ tổ chức
hoạt động xã hội không chặt chẽ, văn
minh, thì các dòng chảy tích Kim cá nhân
và tích Kim doanh nghiệp đơn lẻ sẽ hỗn
loạn, không đẳng phương, có cơ hồ triệt
huỷ nhau nữa.
Vì vậy tích Kim qui mô lớn gồm hai thành
phần. Thành phần thứ nhất chú trọng đến
việc tạo khuôn dòng, để cho các dòng
ngược không nảy sinh được, không rẽ
nhánh được. Đó là lập pháp phải khéo
léo, hành pháp phải nghiêm minh. Thành
phần thứ hai là tạo lập các dòng chủ đạo
để cuốn hút các vòng Ngũ Hành nhỏ lẻ
chạy theo xu thế chính.
Thành phần thứ nhất chúng ta đang nỗ lực
ngày đêm, từ việc cải cách hành chính
(chính phủ lo) đến tăng cường đưa pháp
luật vào cuộc sống (quốc hội lo).
Thành phần thứ hai, tạo lập các dòng chủ
đạo, chưa được chú trọng lắm. Thực vậy,
trên bình diện quốc gia hiện nay không
có một quá trình tích Kim nào mà toàn
dân đều hăng hái tham gia. Người ta ào
ào chơi cổ phiếu, không phải là tích
Kim. Thanh niên nhiều người học hai ba
bằng, sau giờ làm chong đèn học ngoại
ngữ, nhưng đó chỉ là tích Kim cá nhân tự
phát, mong muốn có một chỗ làm tốt hơn,
chứ không phải để khởi tạo. Số lượng
doanh nghiệp mới mở thì nhiều nhưng có
đến 85% là thương mại chứ không phải là
sản xuất. Các doanh nghiệp ấy không đi
theo con đường phát triển bằng tích Kim
công nghệ.... Ngoài ra, những người tham
nhũng đang thực sự xâu xé Kim quốc gia
giam hãm vào Thổ.
Mặt khác, Kim cơ bản của quốc gia là
công nghệ thì đang chìm đắm trong Thổ.
Thực vậy, ba cơ quan nắm giữ khối công
nghệ lớn nhất của đất nước là Bộ Khoa
học Công nghệ, Viện Khoa học và Công
nghệ Việt nam, Bộ giáo dục Đào tạo, lại
phân tán và chia rẽ. Hiện tại, chưa có
một định hướng nào nhằm tích luỹ năng
lượng và vật chất thuộc ba cơ quan vào
một đầu mối có thể tạo nên đột phá trong
tích Kim quốc gia.
Từ các phân tích trên, chúng ta thấy
phải tích Kim quốc gia bằng cách phát
triển công nghệ một cách tập trung. Ngay
từ bây giờ, phải thành lập một cơ sở
công nghệ mạnh, vừa nghiên cứu khoa học
và công nghệ, vừa giáo dục và đào tạo,
để sau 10 năm nữa chúng ta có một đội
ngũ những người quân tử có thể khởi tạo
các vòng Ngũ hành. Trong cơ sở ấy, cá
nhân phải rèn luyện ý chí và năng lực.
Nhiệm vụ của họ là học tập để trở thành
các tổng công trình sư, thành các nhà
khởi tạo. Bài tập của họ là khởi tạo
doanh nghiệp. Ý chí của họ là gánh việc
nước bằng năng lực công nghệ.
Lịch sử chỉ ra rằng chỉ cần một cá nhân
khởi tạo như Nguyễn Công Trứ thì dân mấy
vùng Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình đã
được nhờ nhiều lắm rồi. Nếu cơ sở đào
luyện các nhà khởi tạo “hành Kim” đó
thuộc về quốc gia, thì cái lò quốc gia
đào tạo nhân tài ấy xứng đáng được gọi
là một “Đại học đẳng cấp quốc tế” theo
kiểu Việt nam. Hay nói theo các cụ, đại
học đẳng cấp quốc tế kiểu Việt nam trong
thời đại mới chính là Quốc tử giám hiện
đại. Nếu chúng ta lập được một cơ sở như
vậy thì đó chính là món quà lớn cho
Thăng Long Hà Nội ngàn năm tuổi.
Các nét chính của đại học đó như sau:
-Thầy phải là các nhà quân tử thứ thiệt
về tâm đức và tài năng,
-Trò phải được tuyển là những tinh hoa
ưu tú nhất trong thanh niên,
-Người tốt nghệp phải nói thông ít nhất
một hai ngoại ngữ,
-Các môn học về nhân cách trước hết phải
có là lịch sử, triết học, địa lý, văn
chương,... Những môn này bồi đắp Kim
nhân cách. Người học có thể không bắt
buộc phải theo lớp các môn này, nhưng
phải làm tiểu luận về chúng, để tiết
kiệm thời gian học. Đó là các môn bắt
buộc, nhằm tạo lập cơ sở nhân cách cá
nhân và ý chí mạnh mẽ. Các môn này phải
được các bậc cao minh nhất giảng bằng
tiếng Việt.
-Các môn về công nghệ phải bao gồm cơ
học, vật lý, hóa học, sinh học, tin học,
đông dược học, điện tử học, điện lực,
vật liệu học... Đó là các môn nền tảng
công nghệ bắt buộc. Đó là các môn tạo cơ
sở căn bản cho sáng tạo công nghệ và
tích Kim công nghệ về sau. Đặc biệt,
trong đó phải dậy kỹ và học kỹ môn vẽ kỹ
thuật, vì nó làm nền tảng của tư duy
trừu tượng sau này. Các môn này có thể
được dạy bằng tiếng nước ngoài, bởi giáo
sư Việt hoặc giáo sư nước ngoài.
-Các chuyên đề: sau khi học cơ bản,
người học có thể tự mình đề xuất các đề
tài nghiên cứu, ngay từ năm đầu hoặc năm
thứ hai. Tuỳ mức độ hòan thành chuyên đề
có thể tốt nghiệp sớm. Mức độ hoàn thành
chuyên đề thể hiện mức độ sáng tạo.
-Số lượng năm học có thể chỉ là 2-3 năm
đối với các cá nhân xuất sắc. Vì họ có
thể tự học. Không nhất thiết là 5 năm.
-Trường Đại học này phải thực sự là cơ
quan nghiên cứu, dạy để nghiên cứu, mà
học cũng để nghiên cứu nữa. Cả thầy và
trò đều phải trực tiếp nghiên cứu. Các
đề tài nghiên cứu ưu tiên nhất phải
thuộc về chuyển giao công nghệ từ nước
ngoài vào Việt nam. Mọi sinh viên chỉ
được tốt nghiệp khi hòan thành đề tài
nghiên cứu thực tế. Họ phải có khả năng
phát hiện đề tài, phải sáng tạo cách
giải quyết. Đó chính là tích Kim công
nghệ. Họ phải thâm nhập sâu vào thực tế
đời sống để tìm kiếm đề tài nghiên cứu.
-Những năm đầu chỉ cần tuyển khoảng
100-200 sinh viên. Họ phải là những sinh
viên tốt nhất nước. Sau này, khi trường
đã lớn mạnh thì tăng lượng tuyển.
-Về cơ sở vật chất, chính phủ có thể
dùng vốn ngân sách để khởi tạo Kim cho
Đại học này. Trong quá trình phát triển,
nó phải dần dần đảm đương các nhiệm vụ
lớn lao hơn, thực hiện các đề tài nghiên
cứu tầm quốc gia, quốc tế. Lúc đó nó có
thể tự chủ kinh phí một phần.
-Triết lý của Đại học này là dạy và học
các phương pháp để khởi tạo các vòng Ngũ
Hành. Nó không dạy học thuần tuý mà nó
dạy người ta nghiên cứu, vì chỉ có thể
sáng tạo trong nghiên cứu. Còn dạy chay
như các Đại học hiện nay gọi là đọc bài
giảng, ghi bài giảng và nhớ bài giảng.
Không phải là đào tạo những nhà sáng
tạo.
-Sinh viên tốt nghiệp trường này phải là
những nhà sáng tạo, những Creator với
chữ C được viết hoa một cách trân trọng.
Việc lập trường Đại học đẳng cấp quốc tế
theo kiểu trên chính là công tác tích
Kim qui mô lớn quan trọng nhất, cấp
thiết nhất hiện nay. Công việc này thuộc
về Chính phủ.
Trường này nên được mang tên Đại học
Nguyễn Bỉnh Khiêm (Nguyen Binh Khiem
University) . Vì chỉ nhờ một câu của
Ngài khuyên Nguyễn Hoàng mà nước Nam ta
ngày nay đã được mở rộng từ Đèo Ngang
đến tận mũi Cà mâu. Ngài chính là một
nhà sáng tạo bậc nhất trong lịch sử dân
tộc Việt nam.
f.Ngũ Hành và Internet
Trong gần mười năm trở lại đây thế giới
chúng ta đang sống có một sự thay đổi
rất lớn lao. Sự thay đổi đó ai cũng
biết, nhưng đánh giá đúng tầm quan trọng
của nó, tranh thủ được những mặt tích
cực của nó thì không phải dễ. Đó chính
là sự phát triển đến mức độ cao của
Internet.
Internet chính là một khối Kim tri thức
khổng lồ của toàn nhân loại. Trước khi
Internet ra đời và phát triển như ngày
nay thì tri thức nhân loại nằm rải rác
trong các bộ óc, trong các sách vở và
thư viện,… Khi các con người qua đời thì
phần lớn tinh hoa tích lũy hành KIM của
họ bị chôn vùi theo thân xác họ. Phần
rất nhỏ tinh hoa mà họ tích lũy còn lại
với nhân loại trong các thư tịch, sách
vở, thư viện, …
Hơn nữa, người ta cũng chỉ ghi chép và
lưu giữ những tri thức của các nhà văn,
nhà giáo, những người viết sách, các bác
học, …vì dung lượng của tàng thư rất hạn
chế. Còn tâm tư tình cảm, kinh nghiệm
nhỏ lẻ, tri thức địa phương của đa số
quần chúng vẫn âm thầm đi xuống lòng đất
theo cái chết.
Ngày nay nhờ Internet, bất kỳ ai cũng có
thể ghi chép bất cứ điều gì vào tàng thư
điện tử của nhân loại, bằng đủ loại ngôn
ngữ. Đó là một khối KIM phi vật thể
khổng lồ chưa từng có trong lịch sử nhân
loại. Nó sẽ còn lại ngay cả khi các tác
giả chết đi.
Việc khai thác Internet, khơi dòng để
tri thức nhân loại chảy về với ta chính
là Khai Thủy. Khai Thủy từ KIM khổng lồ
để mà tích KIM cho cá nhân. Rào cản của
việc khai Thủy đó là ngôn ngữ.
Các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, thậm
chí sinh viên, bà nội trợ cũng có thể sử
dụng Internet để làm phong phú kiến thức
của mình, để cân nhắc trước khi ra quyết
định.
Do vậy trên qui mô quốc gia, nếu chúng
ta tổ chức tốt việc khai thác KIM tri
thức trên Internet thì vô cùng có lợi
cho công cuộc phát triển và xây dựng đất
nước. Khai thác Internet phải trở thành
thói quen của tất cả các cán bộ trong hệ
thống điều hành và quản lý đất nước,
thậm chí khai thác Internet phải trở
thành chiến lược phát triển con người
trong mọi ngành, mọi nghề.
Bất kỳ ai muốn sáng tạo, muốn tìm được
giải pháp tối ưu trong hoàn cảnh của
mình đều phải có khối KIM cá nhân to
lớn. Mà muốn tích KIM tri thức nhanh thì
trước hết và cấp bách phải làm chủ
Internet.
2.2.3.Kết luận về ứng dụng Ngũ Hàng
trong giáo dục
Những phân tích trên có thể tóm tắt lại
như sau:
-Nhiệm vụ chiến lược của giáo dục là đào
tạo ra con người lao động sáng tạo trong
hợp tác và tình thương yêu con người.
-Nhà trường là một cơ sở tích Kim nhân
cách và tri thức cho học trò. Nhà trường
cần có sức hút mạnh mẽ với các tâm hồn
trẻ theo tiêu chuẩn thỏa mãn niềm vui
học tập, sự khám phá thế giới và tổ ấm
yêu thương.
-Cá nhân tích Kim là công việc suốt đời,
tích Kim để sáng tạo, tích Kim để sống
hạnh phúc. Cần cải cách việc thi theo
hướng linh động hóa tối đa để nâng cao
khả năng tích Kim của cá nhân.
-Cho phép tự do luân chuyển cho thầy, để
cải cách tiền lương và nâng cao đời sống
giáo viên, chứ không phải thị trường hóa
giáo dục.
Làm các việc đó chúng ta sẽ giải quyết
nhanh được vấn đề thiếu hụt nguồn nhân
lực cao cấp cho công cuộc đổi mới và xây
dựng đất nước.
4.3.Kết luận chung
Cuối cùng có thể nói tạo hóa sinh ra
loài người chúng ta với bàn tay 5 ngón.
Có thể xem đó là một biểu tượng nhằm gợi
mở cho chúng ta biết rằng mọi quá trình
trên thế gian này đều có 5 bước. Người
xưa đã biết điều đó, thậm chí rất rõ
ràng. Chính vì vậy mà cổ nhân đã gắn Ngũ
hành vào mọi thứ trên đời này.
Ngũ hành rất bổ ích, rất có lợi cho
nhiều ngành nghiên cứu khác. Với truyền
thuyết Thánh Gióng chúng ta tự hào rằng
Ngũ hành là tinh hoa văn hóa, tinh hoa
tư tưởng bậc nhất của dân tộc Việt nam.
Tinh hoa đó cần được phát huy không
những ở qui mô một cá nhân bình thường
nhằm tu thân tề gia, mà còn ở qui mô lớn
để các đại nhân làm giàu cho doanh
nghiệp và làm mạnh cho đất nước.
Tiến sĩ
Nguyễn Thế Hùng
Tài liệu tham khảo
(1)Thu San Nguyễn Thế Hùng, “Ngũ hành và
Khoa học”, NXB Văn Hóa Thông tin, Hà nội
2007.
(2) Giáo sư tiến sĩ y khoa, bác sĩ Laz
Bannock- “Tế bào lành mạnh - Sức khỏe
thanh xuân”
(3). Nguyễn Hiến Lê, “Lão tử Đạo Đức
Kinh”, NXB Văn Hóa, Hà nội 1994. |