Lưu ý: Khoa học
nghiên cứu DNA thì tử vi cũng có các sao để nghiên
cứu.
1. Thái Ất chiếc cầu gạch nối giữa Tử Vi - Tử Bình
- Lục Nhâm?
2. Sao tử vi ví như "bộ áo", như "tế bào". Tâm linh con người là
yếu tố CHÍNH. Trần Đoàn tiên sinh mượn các bộ sao
(âm dương ngủ hành) để nói lên tính chất, nói lên
con người hành động và năm tháng nào, đại hạn,
nguyệt hạn họa phúc, thành đa.t.v.v..
Nghiên cứu
& nghiệm lý các sao Tử vi:
Những Cách Nhìn Khác Nhau Về Một Số Sao
===
a.
Qua đó có thể thấy những môn lý học tưởng là dị
biệt chẳng quan hệ gì với nhau nhưng nó lại có
những gạch nối thật tài tình nếu quan sát và suy
ngẫm kĩ lưỡng.
b.
Những sao quan trọng
này bao gồm: 14 chính tinh, Lục sát, Tả Hữu Xương
Khúc Khôi Việt, Tứ Hóa, Thái Tuế và những sao đi
theo, Lộc Tồn và một số sao đi theo. Nó là xương
sống của Lá số, còn những sao còn lại chỉ là phụ
trợ. Xem như vậy sẽ đơn giản hơn cho người học, mà
thông tin luận đoán cũng sẽ chính xác hơn.
===
(Mộc Công)
[Không Kiếp viết tắc KK]
+ Bộ KK luôn đối xứng qua trục Tỵ Hợi, sao
Địa Kiếp được an như sau: sinh tháng 1 an Địa Kiếp
ở cung Tử Tức, sinh tháng 2 an ở cung Tài, sinh
tháng 3 an ở cung Tật, sinh tháng 4 an ở cung Di,
sinh tháng 5 an ở cung Nô, sinh tháng 6 an ở cung
Quan, sinh tháng 7 an ở cung Điền, sinh tháng 8 an
ở Phúc, sinh tháng 9 an ở Phụ, sinh tháng 10 an ở
Mệnh, sinh tháng 11 an ở Huynh, sinh tháng 12 an ở
Phu Thê. Từ vị trí của Địa Kiếp lấy đối xứng qua
trục Tỵ Hợi sẽ có sao Địa Không.
+ An KK theo như trên sẽ cho ra kết quả y hệt như
cách an cũ, nhưng sẽ cho thấy một cái nhìn khác về
KK. Thật ra 2 cách an là như nhau chỉ với suy
luận toán học rất thuần túỵ Nhưng qua đó tôi đã
lĩnh ngộ ra rằng. KK nó chính là sự biểu hiện của
Lệnh Tháng trên lá số. Nếu như ai có nghiên cứu Tử
Bình hay Bốc Dịch sẽ biết tầm quan trọng của
Nguyệt Lệnh.
Trái với Nguyệt Lệnh thì thì suy, được Nguyệt lệnh
sinh phù thì vượng. KK tượng cho sự vất vả, cực
khổ, lúc nào cũng phải lo toan, nó đóng ở cung nào
thì cung đó sẽ có sự khó khăn, vất vả, nếu đi kèm
những sao xấu khác thì nó còn báo hiệu sự nguy
hiểm đến tính mạng. Hai sao này khởi an từ cung
Hợi, tức là nơi Thiên Môn, nếu ai biết Lục Nhâm
chắc chắn sẽ biết sự quan trọng của cung này khi
an vòng Quý Nhân. Như vậy từ cách an của KK ta
thấy được một cái gạch nối giữa Tử Vi-Tử Bình-Lục
Nhâm. Phải chăng có một môn nào đó cao hơn 3 môn
này bao trùm tất cả chăng? Có lẽ là Thái Ất.
2 - Bộ Xương Khúc
+ Tương tự như vậy, bộ Xương Khúc khởi từ hai cung
Thìn Tuất và sao Văn Xương được an theo tháng sinh
như sau: tháng 1 an ở cung Tài, tháng 2 an ở cung
Tật, tháng 3 an ở cung Di, tháng 4 an ở cung nô,
tháng 5 an ở cung Quan, tháng 6 an ở cung Điền,
tháng 7 an ở cung Phúc, tháng 8 ở Phụ Mẫu, tháng 9
ở Mệnh, tháng 10 ở Huynh, tháng 11 ở Phu Thê,
tháng 12 ở Tử Tức. Từ vị trí của Xương có thể dễ
dàng an sao Khúc. Hãy tự kiểm nghiệm, các bạn sẽ
thấy kết quả hoàn toàn y như cách an cũ.
+ Từ cách an cung Mệnh và các sao an theo giờ, tôi
đã nghiệm ra các sao an theo giờ sinh tất cả đều
có 1 phiên bản an theo tháng sinh và cho kết quả
hoàn toàn tương tự như cách an cũ.
Như vậy thật ra mà nói trong Tử Vi quan trọng nhất
chính là Nguyệt Lệnh, và Nhật chủ dùng để an 12
cung, 14 chính tinh và những phụ tinh quan trọng.
Trong đó 12 cung và 14 chính tinh cần dùng đến
Nhật chủ, Nguyệt Lệnh, Giờ Sinh và Thiên can của
năm sinh. Còn những phụ tinh quan trọng an theo
giờ sinh thật ra là những sao an theo tháng sinh
như vậy nó chính là sự bổ sung cho thấy vai trò
của Nguyệt Lệnh trong lá số.
Qua đó có thể thấy những môn lý học tưởng là dị
biệt chẳng quan hệ gì với nhau nhưng nó lại có
những gạch nối thật tài tình nếu quan sát và suy
ngẫm kĩ lưỡng. Qua đó có thể chăng là một môn dự
báo thống nhất bao trùm lên tất cả những môn này
đã từng tồn tạỉ Chỉ là một câu hỏi dành cho suy
ngẫm...
3. Trục Thìn Tuất, trục Tỵ Hợi và Không Kiếp
Ngày đông chí là ngày nhất dương sinh, ngày ngă'n
nhất, đêm dài nhất. Tượng cho vạn vật bắt đầu sinh
sôị Xác định đúng ngày đông chí là việc làm quan
trọng nhất của Thiên quan khi xưa, vì vào ngày này
Vua phải làm lễ tế Giao-là lễ tế lớn nhất trong
năm.
Vào ngày đông chí thì Mặt Trời mọc lên từ cung
Thìn, cho nên rồng mặt trời tượng cho Vuạ Do ngày
ngắn nhất cho nên mãi không sáng được, thành ra
người xưa gọi đó là cung Thiên La tức là lưới trời
giam giữ không cho mặt trời mọc.
Ngày Hạ chí là ngày nhất âm sinh, ngày dài nhất
đêm ngắn nhất. Mặt Trời vào ngày này lặn ở cung
Tuất, và mãi mới lặn được cho nên gọi cung Tuất là
cung Địa Hộ hay Địa Võng.
Thiên La, Địa Hộ là nơi cổng trời, thiên thần
thường hay đi về, được canh giữ ở hai vị hung thần
là Thiên Khôi và Hà Canh. Khôi Canh ở đâu, quý
nhân không đến, vì đấy là nơi hung hiểm nghiêng
lệch của trời đất.
Thiên văn học hiện đại thì xác định trục Thìn Tuất
chính là hoàng đạo/
Ngày / Năm là Giáp Kỷ thì Giờ /Tháng Thìn có can
Mậu
Ngày / Năm là Ất Canh thì Giờ /Tháng Thìn có can
Canh
Ngày / Năm là Bính Tân thì Giờ /Tháng Thìn có can
Nhâm
Ngày /Năm là Đinh Nhâm thì Giờ /Tháng Thìn có can
Giáp
Ngày /Năm là Mậu Quý thì Giờ /Tháng Thìn có can
Bính
Cho nên có thể thấy Thìn chính là nơi hợp hóa
trường sinh của Ngũ Hành, còn Tuất là nơi tuyệt. (Ngày
/Nam là Giáp Kỷ thì Giờ /Tháng Tuất có can Giáp,
các trường hợp khác cứ tương tự mà suy).
Trục Thìn Tuất là vậy, là nơi đi về của các thần,
chắc vì vậy mà nó là nơi khởi đầu an cho rất nhiều
tinh đẩu quan trọng trong Tử Vị
Lệch xuống phía Bắc 18 độ so với Tuất là cung Hợi,
nơi hoàn toàn u minh sau khi ngũ hành đã diệt, đó
là nơi khởi hai sao Không Kiếp. Giờ Tý là nhất
dương sinh, đến giờ Mão là Dương Minh, giờ Ngọ là
nhất âm sinh, đến giờ Dậu là âm minh; cho nên vào
4 giờ này KK hoặc đồng cung hoặc xung chiếu để cho
thấy sự nghiêng lệch về âm dương trong lá số. KK
nếu nhìn theo cách an giờ sinh là vậy, còn nhìn
theo cách an tháng sinh để thấy được sự trái ngược
lệnh thang trên lá số ảnh hương mạnh ở cung nào,
về lục thân thì ở đâụ
Lá số đã có Xương Khúc thì ko bao giờ có Không
Kiếp. Những người có tứ trụ Thuần Dương thì Mệnh
Tài Quan trong Tử Vi có đủ Xương Khúc Tả Hữu, Tứ
Trụ thuần âm thì chỉ có KK mà không có Xương Khúc
Tả Hữụ Tử Vi cho rằng THXK là cát, KK là hung;
nhưng Tử Bình thì cho rằng thuần âm thuần dương
đều là không tốt. Mâu thuẫn chăng??
Không mâu thuẫn, vì thật ra TH, KK, XK nó cho biết
sự vượng của lệnh tháng nghiêng hẳn về bên nào
trong lá số tử vi, cho nên Tử Vi hay Tử Bình cần
phải xem xét thật kỹ, Tả Hữu Xương Khúc chưa chắc
đã cát, Không Kiếp chưa chắc đã hung. Quân bình âm
dương chưa chắc đã cát, âm dương xô lệch chưa chắc
đã hung.
Chỉ có Tử Vi Việt là đưa đủ vào 12 sao của vòng
Thái Tuế. Và đặc biệt Tử Vi Việt còn có thêm sao
Thiên Không luôn an cùng Thiếu Dương. Tất cả những
sách Tử Vi được xem là chính tông đều ghi chép
vòng Thái Tuế gồm có 5 sao: Thái Tuế, Tang Môn,
Bạch Hổ, Điếu Khách và Quan Phù. Không hiểu từ đâu
và do ai mà vòng Thái Tuế của Tử Vi Việt có đủ 12
sao kèm theo sao Thiên Không. Trong khi đó sao
Thiên Không của Tử Vi bắc phái chính là sao Địa
Không của Tử Vi Việt.
Những sao ăn theo Tử Vi gồm có Đào Hoa, Hồng Loan,
Long Trì, Phượng Các, Kiếp Sát, Thiên Mã, Thiên
Khốc, Thiên Hư.Những sao này hợp với vòng Thái Tuế
để tạo ra những cách cục rất đặc trưng, mệnh có
Thái Tuế tất có Long Phượng mà không có Đào Hồng,
mệnh thân tạo thành thế Tang Mã Khốc Hư,... từng
cách cục này có ảnh hưởng rất mạnh lên toàn bộ lá
số.
Ngay như 12 sao của vòng Thái Tuế khi dùng để luận
đoán chủ yếu chỉ dùng đến 5 sao đã kể trên kèm
theo Khốc Hư, Đào Hồng, Long Phượng, và Thiên Mã,
những sao như Tứ Đức, Kiếp Sát, Thiếu Dương, Thiếu
Âm, ... hầu như rất ít dùng để luận đoán vì tính
chất của nó không rõ ràng, mỗi người nói mỗi kiểu,
đến khi xảy ra vận hạn không giải thích được thì
lại cứ viện vào những sao này để lí giải, thật là
rối rắm đâu thể nào làm khuôn mẫu được.
Cho nên dựa trên những nghiệm lý trên có lẽ khi
xem Tử Vi chúng ta nên làm theo nguyên tắc là 1
nhóm nhỏ các sao quan trọng sẽ quyết định đến 90%
thông tin về lá số, tất cả những sao còn lại chỉ
là sự phụ trợ thêm mà thôị Những sao quan trọng
này bao gồm: 14 chính tinh, Lục sát, Tả Hữu Xương
Khúc Khôi Việt, Tứ Hóa, Thái Tuế và những sao đi
theo, Lộc Tồn và một số sao đi theo. Nó là xương
sống của Lá số, còn những sao còn lại chỉ là phụ
trợ. Xem như vậy sẽ đơn giản hơn cho người học, mà
thông tin luận đoán cũng sẽ chính xác hơn.
Lá số Tử Vi nó là tổng hợp tương tác của Năm,
Tháng, Ngày, Giờ lên Lá số, trong đó chỉ duy nhất
có 14 chính tinh là phải dùng hết cả 4 tương tác.
Các sao theo Giờ, Tháng thực chất là tương đương
nhau, qua đó chúng ta có thể thấy những sao đó là
thông nhất của 2 dữ kiện Giờ và Tháng. Còn lại địa
chi năm sinh đó là Thái Tuế.
5. Tả Hữu và chữ "ĐỚI" trong Ngũ Hành:
Như đã viết ở trên, Tả Hữu khởi an ở hai cung Thìn
Tuất theo tháng sinh. Ý nghĩa của hai cung Thìn
Tuất cũng đã nói rõ một cung là nơi mặt trời mọc
vào ngày Đông Chí, một nơi là mặt trời lặn vào
ngày Hạ Chí, một nơi là Thủy vượng, một nơi là Hỏa
vượng. Tính của Thủy là nhuận hạ, tính của Hỏa là
viêm thượng cho nên Tả Phù khởi ở Thìn được xem là
thuận, biểu lộ cho một tính cách nhẹ nhàng, tượng
cho Văn còn Hữu Bật khởi ở Tuất được xem là nghịch,
biểu lộ cho sự mạnh mẽ, tượng cho Võ.
Khởi từ cung Thìn coi là tháng Giêng, ngày đông
chí lại luôn rơi vào thàng Tý trong tự nhiên, cho
nên tháng 1 của sao Tả Phù chính là tháng Tý trong
tự nhiên, tháng mà Thủy cực vượng. Tương tự như
vậy tháng 1 của Hữu Bật chính là tháng Ngọ, khi mà
Hỏa cực vượng. Đặc tính của Thủy và Hỏa đều là sự
nhanh nhẹn, và quyết liệt, cho nên khi Mệnh ở Thìn
Tuất có Tả Hữu đó là người rất tháo vát và nhiều
câu phú của Tử Vi khi nói về Tả Hữu cũng nói về
tính tháo vát khi có Tả Hữu đóng mệnh.
Tả Hữu vốn hành Thủy, Hữu Bật vốn hành Hỏạ Đến
tháng trọng xuân trong tự nhiên (tức là tháng 2)
hay là tháng 4 của Tả Hữu thì Tả Hữu đồng cung tại
Mùị Đến tháng trọng thu trong tự nhiên (tức là
tháng 8) hay là tháng 10 của Tả Hữu thì Tả Hữu
đồng cung tại Sửụ Trọng xuân thì mộc vượng, cho
nên người có tướng Mộc cách thì đầy đặn, cao; phú
Tử Vi cũng có câu Tả Hữu cư Mệnh vi trọng hậu, đó
chẳng phải là để chỉ người Mộc vượng đó ư. Ngược
lại trọng Thu thì kim vượng, chủ về cứng rắn quyền
hành, cho nên phú Tử Vi cũng có câu nói Tả Phù,
Hữu Bật vị đến tam thai, đây chẳng phải là tính
của Kim ư. Như vậy bản thể Ngũ Hành của Tả Hữu
cũng thay đổi theo 4 điểm quan trọng nhất của một
năm : trọng xuân, trọng thu, trọng hạ và trọng
đông. Tại 4 vị trí này Tả Hữu đều ở những cung Tứ
Mộ, cho nên mới nói 4 mộ cung Ngũ hành tạp vì táng
chứa đầy đủ ngũ hành. Và để mô tả cho Ngũ Hành có
sự biến động, người xưa dùng chữ ĐỚI, và đó cũng
là nguyên nhân vì sao một số sách Tử Vi ghi Hữu
Bật hành Thổ đới Hỏa, và nhiều ví dụ khác.
Qua đó cũng có thể thấy, khi xem về Tả Hữu, cần
biết rõ, tháng sinh của mình để an Tả Hữu tương
ứng thật sự với tháng nào trong tự nhiên để đoán
về tính cách của Tả Hữụ Ví dụ sinh tháng 9 âm, Tả
Phù an ở Tý, tháng 9 của Tả Hữu tức là tháng 7
trong tự nhiên, Kim vượng, lúc này nếu có Tả Hữu
thủ Mệnh nó sẽ mang đặc tính của quyền lực, đương
số sẽ không còn tính trọng hậu nữa mà sẽ là người
quyền bính, cứng rắn, đặc tính này gia giảm, tăng
lên và biến đổi còn phải tùy thuộc và chính tinh
đi kèm. Tả Hữu lúc này sẽ có đặc điểm của một
quyền tinh.
Như vậy cầm một lá số Tử Vi lên, nhìn vị trí của
Tả Hữu có thể cho ta thấy cả một sự biến đổi của
Ngũ Hành trên lá số, một bức tranh của Nguyệt lệnh.
6. Xương Khúc
Xương Khúc như đã nói ở trên nó chính là cặp sao
đối chọi với Không Kiếp. Đã có Không Kiếp ở Mệnh
tất không thể có Xương Khúc, cả 4 sao đều có thể
an theo cả ngày sinh và tháng sinh. Không Kiếp là
sát tinh hạng nặng vậy còn Xương Khúc thật sự là
gì, liệu nó có mang cái ý sát tinh hay không?
Xương Khúc nổi bật nhất của nó là vai trò hỗ trợ
giống như Tả Hữu và Không Kiếp, đi kèm nhiều cát
tinh thì sẽ tăng sự cát lên, đi kèm nhiều hung
tinh thì Xương Khúc sẽ hỗ trợ cho cái hung, ví dụ
đi kèm chính tinh miếu vượng Nhật Xương vị đến Tam
thai, đi kèm dâm tinh Xương Riêu là cách dâm dật....
như vậy bản chất của Xương Khúc không phải cát
không phải hung mà phải xem nó đi kèm cùng những
tinh đẩu nào để mà luận đoán. Đó là đặc tính nổi
bật của Xương Khúc.
Xương Khúc có hoàn toàn như nhaủ Không hoàn toàn
như nhaụ Cả 2 sao đều mang nghĩa là duyên dáng có
tài ăn nói khi đi kèm những sao hùng biện như Thái
Tuế, Lưu Hà, nhưng Văn Xương nó còn mang nghĩa là
bằng sắc trong khi Văn Khúc thì không? Sao Văn
Xương luôn có Thai, Cáo đi cùng đó là chỉ bằng sắc,
ấn tín tài năng đã được công nhận một cách chính
thức.
Ngoài ra an theo Xương Khúc còn có bộ Quang Quý
chủ về quý nhân ân điển. Như vậy chỉ một bộ Xương
Khúc mà đã có đến 4 sao an theo Thai Cáo Quang Quý,
Tả Hữu thì có Thai Tọa an theo, trong khi đó KK
lại chẳng có sao nào an theo nó cả. Khởi an từ
trục Tỵ Hợi là nơi nghiêng lệch hẳn về âm dương,
còn trục Thìn Tuất là nơi nhất âm nhất dương sinh
nơi La Võng kìm hãm, đó chính là đặc điểm nổi bật
của KK là sự mạnh liệt và nhanh bất ngờ, còn của
XƯơng Khúc Tả Hữu là sự từ từ nhưng vững chãị Tử
Vi là vậy làm gì có chuyện cát tinh cứu giải, hung
tinh gây họa, sao nào cũng là hung mà cũng là cát,
chúng tổ hợp hòa quyện vào nhau khăng khít để tạo
nên sự mã hóa tuyệt vời cho số mệnh của con người
thông qua năm, tháng, ngày , giờ sinh.