|
- Người mệnh Thủy
nên lập gia đình với người mệnh Kim,
được sinh nhập tốt nhất (chồng Kim
nên "sinh" vợ Thủy)
- Mệnh dương ở cung dương là thuận
lý
- Mệnh tại Thìn có Cơ Lương đồng
cung hội Xương Khúc, Tả Hữu, Tấu
Khoa Quyền là thiên về văn chương
nhà báo, nhà văn.
- Mệnh có Hóa Kị tọa thủ là người
ích kỷ, ít ưa ai mà cũng không mấy
ai ưa mình, nếu ngộ Hỏa Tinh thì
tính tình ương ngạnh, hay đau yếu
vặt hoặc hay phiền muộn.
- Mệnh Vô chính diệu ngộ sát tinh (Kình
Đà) thì nên đi tu hoặc tu được.
- Khoa Tử vi là một khoa cổ, cho nên
đôi khi có những cách cổ như cách
“Hàn Lâm ngộ hung đồ”, Hàn Lâm là
một chức quan văn, quan văn mà gặp
hung đồ thì đời tàn, không thể tốt
được. Cũng như Tử Vi là Đế (Đế là
Hoàng đế khi xưa) nếu gặp các trung
tinh tốt thì kể như được phò tá là
rất tốt, nhưng nếu gặp Không Kiếp,
tức là “Đế ngộ hung đồ”, thành ra
hỏng.
- Tử Vi cư Ngọ là nhất, đó là cách
Đế cư đế vị, nhưng có cách đó, lại
phải xem ngay có cách nào phá. Tử Vi
gặp Hình – Kị là hết hay. Gặp Kình
Đà, Không Kiếp cũng hỏng, khi coi mà
thấy Tử Vi gặp những sát tinh đó,
thì số lại trở về mức bình thường.
Tử Vi gặp Phá Quân cũng là cách “Đế
ngộ cùng đồ”. Cho nên không còn là
“Quần thần khánh hội” nữa.
- Mệnh ở La Võng, mà Thân ở Mão Dậu,
cụ Hoàng Hạc ghi rằng: “Nếu mệnh tại
La Võng (Thìn Tuất) tức là nằm trong
lưới trời, cuộc đời như bị kẹt,
không thể bay bổng được. Chỉ trừ khi
Thân tại Mão Dậu là nơi “cửa Trời”
thì mới có thể vẫy vùng cho đắc chí,
từ 30 tuổi trở ra”. Nhiều người thắc
mắc rằng mệnh tại
Thìn Tuất thì Thân không thể nào ở
tại Mão Dậu. Có người ngờ rằng cụ
Hoàng Hạc đánh đố hoặc dấu nghề (?)
thì được cụ Hoàng Hạc cho biết:
+ Trước hết, khi nêu lên như vậy là
nêu lên một nguyên tắc cho sự hiểu
biết về Tử Vi, và không cần phải gặp
trường hợp đó (Mệnh Thìn Tuất, Thân
Mão Dậu) hay không. Vấn đề nêu lên
một nguyên tắc, cũng như một số phú
đoán nêu lên những cách không thể
xảy ra.
+ Trường hợp Mệnh Thìn Tuất, Thân
Mão Dậu cũng có thể xảy ra, trong
trường hợp người lấy lá số Tử Vi tự
cho mình một định lệ để lấy lá số.
Đến đây, cụ Hoàng Hạc cười và bảo
rằng: “Mình không khi nào dấu nghề,
vì có nghề đâu mà dấu, cụ chỉ không
muốn phức tạp hóa vấn đề ra mà thôi.
Thí dụ: nếu người ta không lấy lá số
theo ngày, tháng, năm thì trường hợp
trên có thể xảy ra. Một số các vị
lấy số Tử Vi theo định lệ riêng của
mình để an Mệnh và Thân, và không
phải các cụ đó bày đặt ra”.
+ Cụ cũng cho biết như sau: thí dụ
như tính tháng, mỗi người có một
định lệ riêng để tính tháng:
- Có người kể từ cung tiểu hạn tính
thêm giờ và tháng sinh.
- Có người kể cung tiểu hạn là tháng
Giêng, cứ thế mà tính xuôi, mỗi cung
một tháng.
- Có người tính như vậy, nhưng lại
đi theo chiều ngược.
- Có người cũng tính như trên, nhưng
lại bắt đầu từ cung đại hạn lưu niên
kể là tháng Giêng.
+ Tự mình ấn định một định lệ cho
mình đoán, rồi từ nay mà tạo cho
những kinh nghiệm cho đến lúc đoán
đúng. Hoặc là định lệ được ấn định
rồi người đoán có “Thần khẩu” “Ông
Ứng” để đoán ra theo ý định của mình.
Xin ghi thêm rằng các cách trong Tử
Vi chỉ là những căn bản, người đoán
có thể thêm những ước lệ của mình
theo kinh nghiệm mà đoán thêm.
- Mệnh Triệt, Thân Tuần tuy khôn
ngoan sắc sảo nhưng cuộc đời vui ít
buồn nhiều, thân nhàn, tâm khổ, mưu
sự thành bại thất thường. Mệnh Triệt,
Thân Tuần cung mệnh phải VCD mới tốt.
- Mệnh Tuần số vất vả, lúc thiếu
thời học được nhưng chậm.
- Cung Phu có Cự ở Thìn là hãm địa,
chỉ riêng có tuổi Tân là được tốt,
còn dư đều xấu. Nếu có Hóa Kị thêm
vào là hay thù oán, chán ghét đến bỏ
nhau, hết mối tình này đến mối tình
khác.
Phú ghi: “Phu cung Hóa Kị một mình
Tơ tình chưa dứt, mối tình lại xui.”
Cung Thiên di có Đào Hồng là cách
chồng đường vợ xá.
“Vợ chồng viễn phối tha phương
Hồng Đào đối chiếu vào làng Thiên di”
Nếu gặp phục binh thì cách này là bị
lừa dối về tình ái.
-
Tuần Triệt không cứ là xấu, các sao
này giảm sự tốt của sao tốt, cũng có
khi lại biến tốt thành tai họa,
nhưng ngược lại, các sao đó cũng
giảm cái xấu và có những khi biến
những cách xấu thành những cách thật
tốt.
- Mệnh có Cự môn tọa thủ lại ngộ Lộc
Tồn, hai sao này vốn khắc kị nhau
nên có sách ghi là suốt đời bất đắc
chí, trở thành xấu xa, nhưng cũng có
sách chỉ ghi là ước vọng cao xa,
không thể đạt tới.
- Lộc tồn và Hóa Lộc ?
+ Sao Lộc tồn đúng là có tính chất
tài lộc và phúc tinh, cứu khổ, cứu
nạn.
+ Lộc tồn gặp Hóa Lộc gọi là cách
Song Lộc, nhưng cả hai lộc đồng cung
thì không hay; vì Tồn thuộc Thổ, Hóa
Lộc thuộc Mộc thì khắc nhau. Cả hai
sao đồng cung tại mệnh là người độc
đoán chuyên quyền. Tốt nhất là Tồn
tại Tý Ngọ, có Hóa Lộc chiếu, mệnh ở
Ngọ; Lộc tồn ở Dần, Hóa Lộc ở Tuất
chiếu vào cũng rất hay, có nghĩa là
của cải chạy vào. Nếu Tồn ở Dần, Lộc
ở Tý chiếu vào mệnh ở Ngọ thì không
hay bằng vì hai Lộc không giao nhau.
Còn mệnh có Hóa Lộc và Tồn chiếu thì
cũng kém hay.
+ Tóm lại: cách Song lộc tốt nhất
gồm có:
- Lộc tồn tại mệnh có Hóa Lộc chiếu
- Lộc tồn và Hóa Lộc giao nhau cùng
biên chiếu vào mệnh.
+ Ghi chú:
-
Mệnh của Hàn Tín là song lộc, nhưng
là Hóa Lộc thủ mệnh, và Lộc tồn biên
chiếu. Còn Trương Lương cũng Song
Lộc, nhưng tốt hơn là vì Lộc tồn thủ
mệnh và Hóa Lộc chiếu. Có Lộc tồn
thủ mệnh là được một phúc tinh rất
quý. Mệnh giáp Song Lộc sẽ xung túc
cả đời.
- Khi muốn quyết đoán 1 cung nào
cũng phải nhìn chính chiếu, bàng
chiếu, và hợp cung cùng với tính
chất sinh khắc chế hóa, miếu vượng
đắc hãm của mỗi vị sao, đồng thời
cũng phải cân nhắc các cung Phúc và
Thân Mệnh nữa.
- “Người ta tuổi Ngọ tuổi Mùi, Còn
tôi ngậm ngùi vì đứng tuổi Thân”
Tìm hiểu theo hệ thống Tử vi:
a) Tuổi Ngọ, Khốc Hư vào cung Tý,
Khốc Hư đắc địa, hai sao này chủ sự
khóc và thở dài, vào Tý Ngọ thì
Thiên Khốc trở thành tiếng cười vui,
Thiên Hư trở thành tiếng thở ra vui
vẻ như lối thoát sự ấm ức trong lòng,
thở dốc ra vui mừng.
b) Tuổi Mùi, an Đào Hoa ở Tý là Đào
Hoa nở giữa đêm thanh mát, còn gì
may mắn đẹp hơn nữa.
c) Tuổi Thân thuộc Kim, rất kị Hỏa
Linh, Thương Sứ, dù mệnh an tại đâu
cũng gặp 1 trong 4 sao trên.
- “Tân biến vi toan, phong lưu thì
ít gian nan thì nhiều”
Tìm hiểu theo hệ thống Tử vi: phép
an Tứ Hóa thì Hóa Kị đi với sao Văn
Xương, Văn Xương là sao tiêu biểu
cho văn chương của một người, cái gì
văn vả của kẻ ấy. Nay cái văn vẻ bị
Hóa Kị làm hoen ố rồi thì còn gì là
đẹp nữa !
- Theo các sách Tử Vi, Tham Lang ở
Tý Ngọ là hãm địa gây nhiều ảnh
hưởng xấu cho người phụ nữ (như lăng
loàn, ghen tuông, hung bạo, khắc
chồng con, tai nạn…) nếu được Tuần
Triệt chiếu lên là phản vi đoan
chính. Nếu được các phúc tinh như
Thiên đức, Phượng các, Quan Phúc, Tử
Vi, Văn Xương, Ân Quang chỉ về các
đức tính nhân hậu, đoan chính, trang
nhã.
- Sao Đào Hoa thủ mệnh có người hỏi
là sao dâm nhưng tại sao không thể
kết thân với bạn gái nào, dù chỉ
trên phương diện thư từ. Qua vài bức
thư đầu, đường ai nấy đi… đành rằng
là dâm nhưng chỉ nổi loạn trong tâm
hồn không thân thích được với nữ
nhân. Hẳn sao Đào Hoa bị phá cách mà
không tìm ra nổi ngôi sao khắc chế.
Theo các sách xuất bản về kinh
nghiệm đoán số, Đào Hoa ở Dậu tối
trời kém thú vị, bớt hấp dẫn, nếu có
Triệt và Thiên không chiếu, thêm 2
sao Tử Tham Mão Dậu: khuynh hướng tu
hành thoát tục, chưa kể các sao đạo
đức như Quan Phúc, Thiên Đức, Phúc
Đức, Thiên Phủ, Thiên Khôi làm cho
đương số trở thành đạo mạo khi gần
phụ nữ, mặc dù có sao Thai thủ mệnh
đi nữa, gặp Đào Hồng Không Kiếp (ý
dâm) vẫn đôi lúc nổi lên, nổi loạn
trong tâm hồn, nhưng đương số đủ
nghị lực đè nén, có thể thành chánh
quả.
- Tiền Cái hậu Mã: sao Hoa Cái nằm
trong tam hợp Dần Ngọ Tuất, Hoa Cái
nằm ở Tuất chứ không thể nằm ở Thìn,
nếu an sai ở Thìn thì không được
cách Tiền Cái hậu Mã.
- Mệnh cư Mão có Dương Lương Hóa
Khoa Phượng Các Tả Hữu thì được cách:
“Nhật Mão Nguyệt Hợi, mệnh đa chiết
quế” (Đi thi đậu cao, bẻ cành quế)
KT sưu tầm
===
1.
Sự khắc hợp giữa trai gái tính
theo can:
a. Năm trường hợp tốt:
- Giáp hợp Kỷ
- Đinh hợp Nhâm
- ất hợp Canh
- Mậu hợp Quý
- Bính hợp Tân
b. Mười trường hợp xấu:
- Giáp phá Mậu
- Kỷ phá Quý
- ất phá Kỷ
- Canh phá Giáp
- Bính phá Canh
- Tân phá ất
- Đinh phá Tân
- Nhâm phá Bính
- Mậu phá Nhâm
- Quý phá Đinh
2. Sự khắc hợp giữa trai gái
tính theo chi:
a. Vấn đề hợp:
Tam hợp gồm:
- Dần, Ngọ, Tuất
- Thân, Tý, Thìn
- Tỵ, Dậu, Sửu
- Hợi, Mão, Mùi
Nhị hợp gồm:
- Tý hợp Sửu
- Thìn hợp Dậu
- Dần hợp Hợi
- Tỵ hợp Thân
- Mão hợp Tuất
- Ngọ hợp Mùi
b. Vấn đề khắc:
- Tý khắc Ngọ
- Tỵ khắc Hợi
- Mão khắc Dậu
- Thìn khắc Tuất
- Dần khắc Thân
- Sửu khắc Mùi
3. Việc lập gia đình qua các sao:
a. Những sao hỷ tín:
Thông thường, các sao hay bộ sao
may mắn nói chung đều có nghĩa
hỷ tín khi đi chung với sao tình
duyên hay sao cưới hỏi, bao gồm:
Thiên Hỷ-Hỷ Thần; Thanh Long-Lưu
Hà; Thanh Long-Hóa Kỵ; Thiên Mã-Tràng
Sinh; Thiên Mã-Điếu Khách-Thiên
Khốc; Ân Quang-Thiên Quý; Thiên
Quan-Thiên Phúc; Tả Phù-Hữu Bật;
Tứ Đức nhất là Nguyệt Đức và
Thiên Đức.
b. Những sao tình duyên:
Hầu hết bao gồm các sao tình
dục nếu kết hợp với sao hỷ
tín thì dễ quyết đoán có hôn
nhân, đặc biệt nhất là những
sao dưới đây: Đào Hoa-Hồng Loan;
Thiên Riêu-Thai; Mộc Dục-Hoa Cái;
Liêm Trinh-Tham Lang.
c. Những sao cưới hỏi: bao gồm:
Long Trì-Phượng Các, Thanh Long
d. Những sao hao tài: Đại Hao,
Tiểu Hao
e. Những sao làm cho nhanh hay
chậm: thông thường là các sao
hành Hỏa và Bắc Đẩu là hai
loại sao hối thúc, khiến hôn
nhân sớm thành. Còn Nam Đẩu vì
ăn về sao cho nên có ý nghĩa
chậm hơn. Đặc biệt là những sao
Phi Liêm, Hỏa Tinh, Linh tinh có
tác dụng hối thúc. Địa Không,
Địa Kiếp, Thiên Không chỉ sự
bất thần, đột ngột. Thiên Khôi,
Thiên Việt chỉ sự vừa ý. Các
Nam Đẩu vì hiệu lực về sau cho
nên báo hiệu hôn nhân vào nửa
năm sau.
4. Những sao bất lợi cho hôn nhân:
Cô Thần, Quả Tú hay Đẩu Quân:
chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn,
kén chọn, có tác dụng ngăn trở
việc lập gia đình. Càng hội tụ
nhiều, sự ngăn trở càng mạnh,
trừ phi gặp nhiều sao tình duyên
bù chế.
Thái Tuế, Quan Phù, Quan Phủ:
Thái Tuế đối nghĩa với Đào,
Hồng vì vậy làm cản trở sự
kết duyên. Quan Phù và Quan Phủ
chỉ sự phản bội, sự phụ rẫy
trong tình yêu.
Phục Binh: chỉ sự cản trở,
thường là bắt nguồn từ cha mẹ
mỗi bên không tán thành duyên số
cho đôi trẻ. Mặt khác, sao này
còn chỉ sự phá hoại, rình rập,
bắt ghen, bêu xấu.
Địa Không, Địa Kiếp hãm địa:
chỉ sự xui xẻo về mọi phương
diện. Không Kiếp hãm làm cho
việc cưới hỏi bất thành, trai
gái phải đau khổ vì mối tình
bất toại, đôi khi đưa đến hậu
quả tai hại cho tính mạng.
Phá Quân hãm địa: không bao giờ
có lợi cho hôn nhân và cho hạnh
phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc
lập gia đình sẽ bị tan vỡ.
Tuần, Triệt: phá vỡ, làm chậm
trễ, làm khó khăn cho hôn nhân.
Nếu cả hai đồng cung ở hạn đó
thì sự bế tắc quan trọng. Trong
trường hợp đơn thủ mà gặp sao
xấu tại cung hạn, sự khó khăn,
trắc trở xảy ra trong buổi đầu:
hôn nhân sẽ đến chậm.
===
1.
Những bộ sao nói lên bản lĩnh
của người vợ:
Thất Sát hay Hóa Quyền ở cung
Thê: Sát là sao nóng tính, uy
dũng, oai phong, cương nghị, hiếu
thắng, tự ái đối với cả hai
phái. Dù đắc địa hay hãm địa,
bản chất cương cường không biến
thể bao nhiêu nên nữ mệnh có sao
này tọa thủ càng có khuynh
hướng đóng vai chủ động trong
việc liệu công việc trong gia
đình và giao tế ngoài xã hội.
Hóa Quyền chỉ sự hiếu thắng,
háo quyền, thích chỉ huy, hay
dựa vào quyền thế kẻ khác,
đặc biệt là của chống. Từ đó,
hậu quả khả hữu là hay hiếp
chồng, lấn lướt người chồng,
lợi dụng quyền lực của chồng.
Cả hai sao đi chung là hai yếu tố
căn bản của một phụ nữ hiên
ngang đối với chồng. Sát hay
Quyền càng đắc địa, tính tình
càng cương ngạnh.
Tướng Quân hay Thiên Tướng ở cung
Thê: Thiên Tướng là quyền tinh và
dũng tinh nên đàn bà có sao này
nóng nảy và bất nhẫn như Thất
Sát, mặt khác lại có tính ghen
tuông mãnh liệt. Nếu đắc địa,
Thiên Tướng còn có ý nghĩa tư
chế ít nhiều, thường có xu
hướng cao thượng hơn, cụ thể là
dùng nghị lực của mình để
thuyết phục chồng, áp lực
chồng làm việc hay. Nếu hãm
địa, tính tình trở nên bộc
trực, nóng nảy, liều lĩnh,
miễn đạt ý muốn, bất chấp hay
dở. Tướng Quân, tuy là phụ tinh,
nhưng đồng nghĩa với Thiên Tướng,
duy có nóng tính, táo bạo,
liều lĩnh nhiều hơn. Ngoài ra,
còn có tính kiêu căng, có óc
lãnh tụ, có tinh thần sứ quân,
háo quyền, nặng tính chất vũ
phu và độc lập hơn Thiên Tướng
rất nhiều, nết ghen cũng không
thiếu. Cả hai sao nếu đồng cung
được gọi là "lưỡng tướng". Cung
Thê của đàn ông gặp bộ sao này
thì rất sợ vợ còn cung Mệnh
của phụ nữ có hai sao này thì
hay lấn hiếp chồng. Nếu được
cát tinh phù trợ thì áp lực
của vọ có chiều hướng tốt, có
lợi cho chồng, kiểu như vượng
phu. Kỳ dư thì thường bất lợi
và hay trái đạo phu thê.
Thân cư Thê: có thể là (i) phải
nhờ vả nhiều nơi người vợ vì
chính hoạt động của vợ có ảnh
hưởng sâu rộng và trực tiếp
đến hậu vận của chồng; (ii) sợ
vợ, nể vợ hoặc do bản tính cố
hữu hoặc do nguyên nhân kể trên.
Hóa Quyền ở cung Nô: đây là
cách sợ vợ bé hay sợ nhân tình
của người chồng đã đa mang.
Người đa thê mà gặp sao này ở
Nô thường lục đục với gia đình
chính thức. Nếu có Thiên Tướng
hay Tướng Quân ở Nô nữa thì mức
độ chi phối của nhân tình và vợ
lẽ rất quyết định. Nếu có thêm
các sao thủ đoạn, chua ngoa nữa
(như Phục Binh, Thái Tuế, Hóa Kỵ)
thì vợ lẽ, nhân tình đó tác
oai, tác quái vô cùng. Nếu Hóa
Quyền chỉ hội chiếu vào Nô thì
ảnh hưởng đó gián tiếp, giai
đoạn và cơ hội mà thôi.
2. Những bộ sao nói lên tư thế
trội yếu của người vợ:
Thông thường có những tài tinh
ở Thê trội yếu như: Hóa Lộc hay
Lộc Tồn ở Thê - Vũ Khúc, Thiên
Phủ ở Thê - Hóa Lộc hay Lộc
Tồn, Ân Quang, Thiên Quý ở Thê -
Tử Vi, Thiên Tướng ở Thê - Long,
Phượng, Lộc, Mã ở Thê và nhiều
bộ sao giàu có chỉ di sản, tư
sản, tạo sản của người vợ.
Nếu các bộ sao giàu ngụ ở Thê
thì tất sẽ vắng bóng ở cung
Mệnh, Thân, Tài, Quan của nam số.
Nếu những cung này xấu thì
chồng nghèo hơn vợ và phải "thực
lộc chi thê".
Nếu Thái Âm sáng sủa ở Thê thì
tư thế của vợ mạnh và nếu sao
tọa thủ Mệnh của người chồng
lại lép vế thì nam số thường
nương thế vợ để tiến thân.
Thân cư Thê có Thái Âm sáng sủa:
sợ và nể vợ khá rõ ràng.
Thái Âm càng sáng, sự nghiệp vợ
càng hiển. Nếu đồng cung với
Thiên Cơ ở Thân (Thiên Cơ chỉ sự
khó tính, ghen tuông) thì ý
nghĩa trên càng được xác nhận.
Trong mọi vị trí mà Thái Âm
sáng sủa (Thân, Dậu, Tuất, Hợi,
Tý) đóng ở Thê thì trai lấy vợ
vừa đẹp, vừa giàu, thường nể
vợ và phải nhờ vợ mới có danh.
Nếu có thêm cả Lộc, Quyền thì
tính sợ vợ càng chắc chắn.
===
Cách giàu phải gồm các điều
kiện sau đây:
– phải có chính tinh miếu,
vượng địa đóng ở các cung liên
hệ đến tài sản, nhất là Tài
và Điền. Nếu đó là tài tinh
thì càng hay, nếu có nhiều tài
tinh đồng cung thì càng tốt đẹp
(trường hợp thuận vị);
– phải được Âm Dương sáng sủa
chiếu vào hai cung Tài, Điền;
– phải có phụ tinh tốt, nhất
là tài tinh đóng ở hai cung Tài,
Điền hay ít ra ở những cung
Mệnh, Thân, Phúc, Quan. Nếu tài
tinh hay cát tinh đắc địa thì
càng tốt thêm;
– phải có sao giữ của đóng ở
những cung Tài, Điền, Quan, Di,
Mệnh, Thân;
– phải có sao hưởng của ở
những cung tài sản hay ở Mệnh,
Thân, Phúc, Quan;
– phải có sao di sản ở những
cung này;
– phải tránh các hao tinh, sát
tinh, hung tinh, hình tinh. Nếu
không, các loại sao này phải
đắc địa hoặc có sao giải đi
kèm thì sức phá sẽ giảm nhẹ;
– cát và tài tinh phải tránh
hai sao Tuần, Triệt mới bảo
toàn hiệu lực.
Trong trường hợp cung Tài, Điền
không có chính tinh thì phải có
những điều kiện dưới đây bổ
túc:
– có tứ Không, tam Không hay ít
ra nhị Không, tức là các sao
Tuần, Triệt, Địa Không và Thiên
Không một phần tọa thủ, một
phần hội chiếu;
– có Âm Dương sáng sủa chiếu
vào cung vô chính diệu (Nhật
Nguyệt chiếu hư vô);
– nếu không được Âm Dương sáng
sủa chiếu thì tối thiểu, cung
Tài Điền vô chính diệu phải có
chính tinh miếu, vượng địa xung
chiếu vào.
1. Những sao tài:
Vũ Khúc miếu và vượng địa (ở
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Dần, Thân,
Tý và Ngọ): chỉ sự giàu có,
dư dả nói chung, thông thường là
giàu về tiền bạc nhưng nếu
đóng ở cung Điền sẽ giàu về
nhà đất. Vũ Khúc sáng sủa báo
hiệu một thế lực tài phiệt
lớn, tức là người nhờ đồng
tiền mà có thế lực, đặc biệt
là khi đi đôi với Thiên Phủ, Lộc
Tồn hay Hóa Lộc.
Thiên Phủ: chỉ cái kho lớn của
trời đất, là một tài tinh quan
trọng tương tự như Vũ Khúc. Nếu
cả hai sao đồng cung và đặc
biệt có thêm Hóa Lộc, Thiên Mã
hay Lộc Tồn thì tài sản càng
dồi dào, miễn là không bị sát,
hung, hao tinh xâm phạm.
Thái Âm, Thái Dương sáng sủa:
là bóng là phước của trời đất
dành cho mình. Sự thịnh vượng
của Âm Dương bắt nguồn từ việc
đắc thời, từ vận hội tốt đẹp
của đất nước, phù hợp với năng
khiếu làm giàu của mình, trong
thời bình hoặc trong thời loạn.
Nếu cả hai sáng sủa thì sức
sáng gia tăng, tài lực dồi dào,
đặc biệt cho những người có giờ
sinh tương hợp. Nếu đồng cung thì
phải có thêm Hóa Kỵ, Tuần hay
Triệt mới hay. Ngoài ra, có thể
nói sự thịnh vượng đó do cha
mẹ để phúc lại. Nếu cả hai
cùng sáng thì cha mẹ giàu có,
thường để di sản cho con cháu.
Riêng Thái Âm trực tiếp có
nghĩa điền sản nên đóng ở Điền
thì rất hợp vị. Riêng Thái
Dương đi với Thiên Lương ở Mão,
với Cự Môn ở Dần hoặc Thái Âm
đi với Thiên Đồng ở Tý cũng
rất giàu có. Cung Tài giáp Âm,
Dương sáng sủa cũng là chỉ dấu
của sự dư dả. Về mặt nghề
nghiệp, đó là những nghề dính
dáng đến tiền bạc.
Tử
Vi: đóng ở cung Tài, Điền vẫn
lợi lộc, nhất là ở Dần, Thân,
Tỵ, Hợi. Tại bốn vị trí này,
Tử Vi hội với Thiên Phủ là tài
tinh, nhất là ở hai cung Dần và
Thân, nêu rõ hiệu lực về tài
chính càng nhiều thêm. Nếu Tử
Vi ở Ngọ thì rất rực rỡ, tài
lực càng sung mãn.
Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung: đồng
cung ở Mão và Dậu (ở Mão đẹp
hơn). Hai sao này kết hợp thì
tạo được tài lộc dồi dào, nhờ
tài năng cạnh tranh, óc tính
toán, đa mưu, biết người biết
việc, biết phương pháp, mánh
khóe, chiến lược kinh doanh,
biết tường tận môi trường tài
chính, rất thích hợp cho các
nghề nghiên cứu về kinh tài. Đi
chung với các tài tinh khác như
Hóa Lộc, Song Hao, ý nghĩa trên
càng chắc chắn. Riêng Cự Môn đơn
thủ ở Hợi, Tý, Ngọ cũng giàu
có, tự lập từ tay trắng rồi
bộc phát lẹ làng, nhất là
trong náo loạn, cạnh tranh.
Thiên
Cơ, Thiên Lương đồng cung: ở Thìn
và Tuất. Tại đây, Cơ Lương chỉ
sự giàu có dễ dàng. Thiên Cơ
chỉ mưu trí, xảo thuật kiếm
tiền. Thiên Lương chỉ cơ hội tốt
đẹp và may mắn, đồng thời cũng
chỉ thiện tính của nhà buôn
bán, kinh doanh. Nếu Lương đơn thủ
ở Tý Ngọ thì cũng giàu có.
Đồng cung với Thái Dương ở Mão,
với Thiên Đồng ở Dần Thân thì
cũng đắc phú như vậy. Cách
giàu của các sao đi chung với
Thiên Lương đều lương thiện, có
tinh thần xã hội, cứu độ, tạo
công ăn việc làm cho kẻ khác.
Vũ
Khúc, Tham Lang đồng cung: hai sao
này kết hợp điển hình cho kinh
doanh thương mại, chỉ người tham
tiền, ham lợi, đặc điểm của
doanh thương. Vì có sự hiện
diện của Tham Lang nên sự buôn
bán không lương thiện, thành
thật bằng Cơ, Lương. Vũ, Tham
đắc tài lúc hậu vận. Riêng Tham
Lang đơn thủ ở Thìn, Tuất cũng
rất giàu, nhất là về già;
cách giàu này rất nhanh, có
tính hoạnh phát, hình thái khả
hữu là sự kinh doanh táo bạo,
tốc chiến tốc thắng; hình thái
đầu cơ, tích trữ, cầm giá, kìm
giá, thao túng thị trường, độc
quyền mại bản.
Thiên Đồng miếu địa: người
trắng tay dựng nên sự nghiệp,
chắc chắn là nhờ may mắn, phúc
đức. Cách giàu của Thiên Đồng
phải nhọc sức, đi đây đi đó buôn
bán mới có của. Đồng đi chung
với Thiên Lương ở Dần Thân cũng
rất thịnh vượng và lương thiện.
Thiên Tướng: nếu ở Tỵ, Hợi,
Sửu, Mùi hoặc đồng cung với
Liêm Trinh ở Tý, Ngọ với Tử Vi
ở Thìn, Tuất thì cũng làm
giàu dễ dàng mà lại lâu bền,
chắc chắn và chính trực.
Phá Quân miếu địa: ở Tý, Ngọ
thì dù có giàu nhanh chóng, dễ
dàng nhờ mạo hiểm, liều lĩnh,
bạo dạn nhưng cũng có nhiều
bất trắc vì tính mạo hiểm này.
Do Phá Quân có bản chất hao tán
nên cái giàu rất mỏng manh, dù
kết hợp với chính tinh nào
cũng không chắc duy trì lâu dài
sự giàu có.
Thất Sát miếu địa: ở Dần ,Thân,
Tý, Ngọ chỉ cái giàu rất bất
thường, thường là chậm, chỉ
phát sau giai đoạn lập thân, chỉ
phát lúc bất ngờ, cho nên có
tính hoạnh tài. Đi chung với Tử
Vi thì kiếm tiền dễ, nhanh.
Lộc Tồn: là một tài tinh quan
trọng, báo hiệu sự dư ăn dư để,
khả dĩ gọi là giàu có. Về
mặt tiêu cực, Tồn chỉ "lộc ăn",
nghĩa là có nhiều cơ hội được
tiền bạc, điền sản, lợi lộc
nói chung, thường do di sản của
tổ phụ, cha mẹ (Lộc Tồn ở
Phúc, Mệnh) hay do người biếu
xén, tặng, giúp đỡ. Về mặt
tích cực, sao này chỉ người
tháo vát, có tài tổ chức, có
tính toán và quyền biến theo
hoàn cảnh, có năng khiếu buôn
bán. Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ
hay tam chiếu thì hưởng lộc,
nếu tọa thủ thì hưởng nhiều,
tam chiếu thì hưởng ít hơn. Nếu
chỉ nhị hợp thì ít hơn nữa.
Mức độ hưởng thụ Lộc Tồn được
liệt kê trong bảng dưới đây:
Hóa Lộc: nói chung, sao này
đồng nghĩa với Lộc Tồn nhưng
Hóa Lộc ngay thẳng, thành thật,
không mưu cơ như Lộc Tồn.
Hóa Lộc làm giàu một cách
chính đáng, cạnh tranh ngay
thẳng hơn, óc con buôn tương đối
vừa phải, không mấy hám tài,
tham lợi như Lộc Tồn.
Cái giàu của Hóa
Lộc dễ dàng hơn, không đua chen,
lăn lộn với nhiều sinh kế, phần
ý nghĩa tiêu cực của Lộc Tồn
ứng dụng nhiều cho Hóa Lộc.
Trong khi Lộc Tồn thiết tha giữ
của thì Hóa Lộc tương đối hào
sảng, biết hưởng thụ chứ không
phải chỉ biết lo chắt bóp: đây
là người có tiền, chịu ăn chơi
và chịu chi tiêu. ở vị thế hội
chiếu, hai sao này bảo đảm giàu
có nhưng nếu đồng cung lại kém
hay vì Tồn thuộc Thổ, Lộc
thuộc Mộc, hai hành xung khắc,
có thể bị lụy vì tiền, có lẽ
vì quá tham kiếm tiền. Hóa Lộc
hay Lộc Tồn kết hợp với Thiên
Mã càng thêm giàu có.
Thiên Mã: Đắc địa ở Dần, Tỵ và
phần nào ở Thân, Thiên Mã cũng
có nghĩa tài lộc, phần lớn nhờ
tháo vát, lanh lợi, không ngoan,
xoay trở khéo, quán xuyến, chịu
khó, chí thú làm ăn, tương ứng
với các đức tính của ngựa hay,
chạy nhanh và bền. Duy cái giàu
của Thiên Mã do tự lực, tay làm
hàm nhai, cho nên cực, đó cũng
là cái giàu ở tha phương, càng
làm ăn xa càng có lợi. Mã chỉ
dễ làm giàu khi hội tụ nhiều
cách tốt như Mã Tử Phủ, Mã
Nhật Nguyệt sáng, Mã Lộc Tồn,
Mã Hóa Lộc, Mã Tràng Sinh, Mã
Khốc Khách, Mã và Lưu Mã. Các
cách này chỉ sự may mắn, đắc
thời, hợp cảnh. Ngoài ra, hành
của Mã phải phù hợp với hành
của Bản Mệnh thì mới phát tài
dễ dàng (Mã ở Dần với người
mạng Mộc, ở Hợi với người
mạng Thủy). Nếu Mã gặp Hình
hay Tuyệt hay Tuần, Triệt hoặc
là Mã ở Hợi (trừ phi với mạng
Thủy) thì bất lợi, hung hiểm
hoặc chật vật. Mã đắc địa ở
cung Điền có nghĩa là có nhà
cửa, ruộng đất, xí nghiệp ở
nơi xa. Nếu óc thêm Tả Hữu thì
có nghĩa là song mã, tam mã,
ngụ ý có thêm điền lộc. Về
phương diện nghề nghiệp, Thiên
Mã hợp với ngành vận tải hàng
hóa hay hành khách, môi giới,
giao dịch với bên ngoài, tùy
viên sứ quán về kinh tế, thương
mại.
Đại Hao, Tiểu Hao ở Mão và Dậu:
chỉ sự giàu có, đặc biệt là
nếu Đại Hao ở Mão và Tiểu Hao
ở Dậu. Tại hai cung này, nhị
Hao rất thịnh về tiền bạc: đó
là người thông minh, lanh lợi,
biết xoay trở làm ăn, có chí
làm giàu lớn, dám bỏ tiền ra
kinh doanh đại sự, dám gánh bất
trắc của thời cuộc để mưu lợi
tối đa. óc mạo hiểm của nhị
Hao ở Mão Dậu rất lớn, được
thời thì trở thành đại phú,
gặp vận xui thì có thể sạt
nghiệp. Đại, Tiểu Hao không chắt
mót giữ tiền mà luân chuyển
vốn liếng làm ăn rất linh động,
tiêu pha lớn trong việc kinh doanh
cũng như trong việc ăn chơi, tính
hào phóng hơn Hóa Lộc nhiều.
Mặt khác, do đặc tính linh động,
nhị Hao ám chỉ người có nhiều
ngành buôn bán, kinh doanh, đầu
tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau,
dễ chuyển ngành thương mại tự
địa hạt này sang địa hạt khác.
Nếu tài sản của Lộc Tồn tương
đối bất động thì tài sản của
nhị Hao lại luân lưu. Ví dụ,
Lộc Tồn đọng vốn trong việc
kinh doanh bất động sản (như cho
vay bạc lấy lời, cất nhà cửa
cho thuê, tạo điền sản cho mướn
lấy địa tô ...) còn nhị Hao thì
biến chế sản phẩm, phân phối
hàng hóa, vận tải hành khách
hay hàng hóa bằng đường bộ,
đường thủy (nếu có Lưu Hà) hay
bằng hàng không (nếu có Phi Liêm).
Long Trì, Phượng Các: là hai sao
tốt một cách tổng quát (đẹp về
nhan sắc, hay về văn học nghệ
thuật, đoan trang về phẩm hạnh,
may mắn về hôn nhân, sang cả về
tiện nghi vật chất). Long Trì ở
Điền chỉ cái nhà khang trang,
đài các, có cảnh trí xinh xắn,
có thể có ao hồ non bộ. Long
Phượng đi với Mộ có nghĩa là
được hưởng di sản. Về mặt nghề
nghiệp, Long Phượng có thể là
kiến trúc sư, thầu khoán, những
người sống về nghề buôn bán
bất động sản, đặc biệt là khi
tọa thủ ở Điền hay đồng cung
với Thái Âm.
Tam Thai, Bát Tọa: chỉ khi nào
đóng ở Tài và Điền thì ý
nghĩa tài sản mới rõ ràng.
Mặt khác, nếu bộ sao này gặp
sao Mộ ở bốn cung Thìn, Tuất,
Sửu, Mùi thì tài sản càng
nhiều thêm. Thai Tọa ở Tài Điền
tốt đẹp thường chỉ sự hanh
thông về tiền bạc, sự may mắn
trong việc tạo sản, không phải
đấu tranh chật vật: tiền bạc
tương đối dễ dàng, hoặc có
người bao bọc nuôi dưỡng. Tâm lý
của Thai Tọa về mặt của cải
rất lạ lùng: đó là sự vô tư
trước tiền của, dù là giàu hay
nghèo, vì vậy, thiếu óc đầu tư,
đầu cơ, trục lợi của con buôn.
Thiên Khốc, Thiên Hư ở Tý Ngọ:
chỉ sự giàu có trong hậu vận,
lúc về già, "tiền bần hậu phú".
ở những cung khác, Khốc Hư chỉ
sự lo âu triền miên về tiền bạc,
phản nghĩa với Thai Tọa.
Tử ở Tài, Điền: chỉ sự kín
đáo, bí mật. Đóng ở Tài, Điền,
đương số có tài sản chôn giấu
hoặc nhờ người thân tín đứng
tên. Riêng ở cung Điền tốt, sao
Tử có thể có nghĩa là có
quặng mỏ, quý kim, dầu hỏa ở
dưới lòng đất của mình hoặc
là một trương mục vô ký danh ở
ngân hàng. Về mặt nghề nghiệp,
đây có thể là nhà khai thác
khoáng sản, nếu sao Tử ở Tài,
Điền và đi chung với các sao
tài khác.
2. Những sao trợ tài:
Tả Phù, Hữu Bật: tượng trưng
cho sự phò tá, giúp đỡ, cộng
sức, chung vốn của người đời.
Đi chung với các sao tài, Tả
Hữu có nghĩa là được bằng hữu
giúp đỡ trong việc làm ăn, kiếm
tiền dễ dàng nhờ những cộng sự
viên đắc lực.
Cung
Tài có Tả Hữu thì không kinh
doanh riêng rẽ, trái lại được sự
hợp doanh, hợp tư, chung của,
góp công, chia lời.
Nếu tọa thủ ở cung Điền tốt
đẹp, Tả Hữu ngụ ý có hai nhà
hoặc một nhà, một đất hay xí
nghiệp làm ăn. Còn ở cung Tài,
đương số vừa có tiền để ở nhà,
vừa có trương mục ở ngân hàng.
Nếu không bị sát tinh xâm phạm
thì sự hợp tác chân thành,
tích cực và lương thiện. Trái
lại, nếu có sát tinh, ám tinh
đi kèm thì trong sự hợp tác có
nghi kỵ, cạnh tranh, gian lận,
lường gạt, hoặc giả có sự hợp
tác để làm ăn ám muội và táo
bạo kiểu như buôn lậu phi pháp,
có thể đi đến sự thanh toán,
giành giật, phá sản, bị họa
vì tiền bạc, vì quản lý kém
phân minh.
Thiên Quan, Thiên Phúc: ý nghĩa
tương tự như Tả Hữu: có sự
giúp đỡ của quý nhân trong việc
làm ăn, sự hợp tác có tính
cách lương thiện, chân thành,
bất vụ lợi, tín nghĩa. Mặt
khác, Quan và Phúc cũng có
nghĩa hay giúp đỡ kẻ khác, hay
dùng tài sản làm việc phước
thiện, làm việc văn hóa ...
Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự
phong phú, thừa thãi, đi với
tài tinh, sẽ làm cho của cải
nhiều thêm. Cung Tài có sao tài
đồng cung với Sinh hay Vượng thì
tiền bạc có sinh lợi, vốn đẻ
ra lời hoặc vốn được tích lũy
thêm mãi. Ngoài ra, Sinh Vượng
còn có nghĩa như một tổ hợp
thương mại chứ không phải một sự
kinh thương đơn lẻ.
Ân Quang, Thiên Quý: ở cung Tài,
chỉ di sản, nhiều hay ít còn
tùy số lượng tài tinh thủ hay
chiếu. Nếu có nhiều sao đi kèm,
di sản đó có thể quan trọng.
Mặt khác, Quang Quý còn có
nghĩa là những cổ đông bỏ vốn,
thường là người thân thuộc, tín
nhiệm nên có tính cách gia tộc.
Ngược lại, nếu gặp cả Không
Kiếp hội chiếu, di sản đó có
thể tiêu cực (có nợ nần của
cha mẹ để lại) hoặc không được
hưởng di sản, hoặc phải bị hao
tán nhiều.
Đào, Hồng, Hóa Lộc: Lộc đi với
Đào hay Hồng là cách giàu nhờ
phái khác, sự may mắn do người
khác phái mang đến.
Hóa Quyền: đóng ở cung Tài tốt
đẹp, đi cùng với tài tinh rực
rỡ, có nghĩa như một thế lực
tài phiệt. Đóng ở cung Điền,
Hóa Quyền có thể là bổng lộc
do nhà nước ban cấp.
Thiên Khôi, Thiên Việt: là những
sao trợ tài vì làm sáng lạng
thêm cho Tài, Điền nếu hai cung
này xấu. Nếu thêm tài tinh thì
của cải nhiều thêm. Sự hội tụ
của nhiều tài tinh với Khôi
Việt báo hiệu một thế lực tài
phiệt có thể nói là xuất
chúng. Nếu hai cung Tài và Điền
tương đối xấu thì sự hiện diện
của Khôi Việt tại đó sẽ làm
vượng cho hai cung: đương số không
đến nỗi nghèo túng, có thể đủ
ăn, đủ mặc.
3. Những bộ sao may mắn:
Thanh Long, Hóa Kỵ: nếu đồng
cung là cách rồng gặp mây. Nếu
chỉ hội chiếu thì vận hội kém
hơn.
Thanh Long, Lưu Hà: chỉ hoàn
cảnh thuận lợi cho việc thủ
đắc tài sản. ở cung Điền, nếu
đi với tài tinh, có nghĩa là
có tàu bè, ngư thuyền, sinh
sống bằng nghề hàng hải, ngư
nghiệp ...
Bạch Hổ, Phi Liêm: đồng cung chỉ
một điềm lành cho việc tạo của.
Về mặt nghề nghiệp, đây có thể
là ngành chuyển vận hàng không.
Long, Phượng, Hổ, Cái: rất đẹp
cho tài lộc. Riêng Long Phượng
còn có nghĩa là được hưởng di
sản, cụ thể là nhà cửa.
Mã, Khốc, Khách - Mã, Sinh:
Thiên Mã, Thiên Khốc và Điếu
Khách hội tụ chỉ dịp may về
tài sản (mua xe). Mã và Tràng
Sinh cũng đồng nghĩa. Ngoài ra,
những bộ sao tốt khác của Mã
cũng mang lại may mắn như Mã Tử
Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc,
Mã Tồn ...
Thiên Hỷ, Hỷ Thần (song Hỷ):
báo hiệu điềm tốt, tin vui về
tài sản trong một vận kỳ nào
đó nếu đi chung với tài tinh.
Địa Không, Địa Kiếp đắc địa (ở
Tỵ, Hợi, Dần, Thân) giúp bộc
phát mau lẹ. Đi với các sao lộc
thì tài sản đến một cách nhanh
chóng, bất thần. Tuy nhiên, vì
bản chất là hung sát tinh, Kiếp
Không có thể đi liền với những
rủi ro, bất trắc vì vấn đề
tiền bạc. Thông thường, tiền
bạc của Không Kiếp đắc địa
thường là hoạnh tài, của phù
vân, không mấy chính đáng, được
thủ đắc bằng những phương chước
táo bạo, có thể nói là ám
muội. Đóng ở cung Điền, Không
Kiếp chỉ sự mua vào bán ra bất
động sản, việc thay đổi nhà
cửa tương đối mau chóng, ứng
hợp với nghề trung gian bất
động sản.
Thiên Trù: chỉ sự ăn nhậu, cái
lộc ăn. Đóng ở cung Tài, Điền
có lợi ít nhiều về lộc, thông
thường là quà biếu hoặc được
đãi đằng, nhậu nhẹt. Nếu lá số
có cách giàu rõ rệt thì món
quà này có thể lớn theo khuôn
khổ tương xứng. Ngược lại, có
thể chỉ là vật mọn, có giá
trị tiêu dùng hơn là để dành
sinh lợi.
4. Những sao giữ của:
Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân, Hỏa
Tinh, Linh Tinh, Lộc Tồn, Vũ
Khúc hãm địa: đều có ý nghĩa
ăn xài kỹ lưỡng, biết tiết
kiệm, chặt chẽ trong chi tiêu,
tính toán cân nhắc, so đo hơn
thiệt lúc ăn tiêu, thậm chí đi
đến chỗ bủn xỉn, hà tiện, ích
kỷ, không dám tiêu dùng. Càng
hội tụ nhiều, tính hà tiện
càng mạnh.
DCBA sưu tầm
===
A.
Cách ghen:
Cự Môn: chỉ sự nghi ngờ, thắc
mắc, bất mãn đưa đến dò xét,
giám sát, theo dõi cử chỉ, lời
nói và hành động của người bị
tình nghi. Nếu hãm địa, xu
hướng quá khích sẽ rõ ràng hơn.
Đối tượng bị bao vây chặt chẽ,
bị theo bén gót, bị điều tra
từng bước, bị hạch sách từng
cử chỉ.
Hóa Kỵ: ngụ ý nghi ngờ, thắc
mắc như Cự Môn nhưng lại thêm
tính đố kỵ, sợ người khác lấn
lướt hoặc thay chân mình. Thường
nông nổi và dục động, dễ bị
xao xuyến vì những chỉ dấu nhỏ
nhặt, nhưng cũng dễ nguôi, dễ
quên để rồi dễ nhớ, dễ ghen trở
lại. Hình thái điều tra của
Hóa Kỵ là thẩm vấn, dò hỏi,
gợi chuyện chặn đầu.
Quan Phù, Quan Phủ: chỉ sự cạnh
tranh, thù vặt, thù dai thường
bắt nguồn từ một chỉ dấu bị
phản bội nào đó. Đến giai đoạn
Quan Phù, sự hiềm khích xuất
hiện, tác giả bắt đầu dấn thân
đối phó với một tình địch đã
được nhận dạng, với người
chồng/vợ đã có bằng cớ hai
lòng.
Thiên Hình: là nết ghen sâu sắc
của một người thông minh, biết
dò xét, biết lý luận để khám
phá những điểm lạ trong thái độ,
cử chỉ, ngôn ngữ, nếp sống của
người kia. Bắt mạch rất mau,
hành động rất lẹ. Hình thái
trả đũa của Thiên Hình thường
có tính cách vũ phu, mạnh bạo.
Thiên Cơ: cũng chỉ nết ghen của
người có mưu trí, tinh quái,
theo kiểu Hoạn Thư. Thông minh
trong lúc điều tra, Cơ cũng khôn
ngoan khi đối phó, thường là có
kế hoạch tinh vi và ít khi thất
bại.
Liêm Trinh: chỉ sự khó tính,
khắt khe trong tình yêu, trong
cuộc sống gia đạo. Liêm ghen vì
thấy vợ/chồng phạm vào các
nguyên tắc căn bản của hạnh
phúc, xáo trộn các tiêu chuẩn
mà họ tự vạch ra để duy trì
hạnh phúc. Liêm có thể bao dung
những hành động bay bướm nhỏ
nhặt, nhưng không tha thứ cái gì
quá đáng phạm vào các nguyên
tắc bất dịch của hạnh phúc. Do
đó, hình thái trả đũa thường
là gián đoạn khá dễ dàng như
chấm dứt tình yêu chẳng hạn.
Tham Lang: nết ghen rất mạnh và
thiếu suy nghĩ, có hình thái
quá khích và vũ phu, bất chấp
hậu quả. Nết ghen nông nổi và
cuồng nhiệt, hành động theo bản
năng nhất thời, nông cạn vì vậy
sự đổ vỡ khó tránh. Càng hãm
địa, tính chất cực đoan càng
mạnh.
Phá Quân: ghen tuông có tính phá
hoại, nhằm trả đũa gấp rút
bằng hành động mau lẹ và mạnh
mẽ, đôi khi tàn nhẫn, tương tự
như Tham Lang.
Thiên Tướng, Tướng Quân: ghen
tuông rất dữ dội, vì không nhẫn
nhịn được trước sự bất bình,
phải ra tay can thiệp ngay. Cả
hai cùng chỉ sự nóng tính như
lửa, nhất là Tướng Quân, vừa
nóng lại vừa liều, làm càn,
làm bạo, dám đi đến những hành
động quyết liệt ăn thua đủ,
nhất là khi bị khiêu khích. Tự
ái của hai sao này rất lớn.
Phục Binh, Thiên Không: trong việc
đối phó, chỉ sự rắp tâm, có
chuẩn bị kỹ lưỡng để ra tay
bất ngờ, dùng nhiều thủ đoạn
trá ngụy, gian hiểm như tổ chức
theo dõi, bắt ghen tại trận chứ
không chịu cản trở suông. Cách
ghen đó chạm tự ái nạn nhân
rất nặng nề, đi đến đổ vỡ dễ
dàng. Nếu bị Tuần, Triệt có
thể bắt ghen hụt.
Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân: có
ý nghĩa cô đơn, cô độc, ít giao
thiệp, tình cảm hướng nội và
bị dồn ép, kén chọn bạn trăm
năm vì thế không có lợi cho hôn
nhân. Khi có gia đình, ba sao này
có nghĩa ghen tuông một cách
ích kỷ, nhỏ mọn, hay gắt gỏng
vì những chuyện vặt, thường là
thúc thủ đau khổ ngầm, không
giãi bày được với ai. Sự dồn
ép dày vò đương sự có khi đưa
đến một phản ứng rất bất ngờ
khó lường, tự mình hành động
tay đôi với tình địch hoặc tự
mình rút lui âm thầm.
Hóa Quyền: chỉ người tự ái
lớn, thích chỉ huy, không chấp
nhận lép vế trong địa vị độc
tôn của mình. Hóa Quyền ghen
phần lớn do tự ái nhiều hơn là
do tình yêu. Chính vì vậy, phản
ứng của Quyền khá mạnh bạo và
kiên trì cho đến khi khuất phục
được đối thủ mới thôi. Nếu xoa
dịu và gãi trúng chỗ tự phụ
của Quyền, nết ghen tuông sẽ
giảm đi nhiều, khả dĩ chấp
nhận tính bay bướm của bạn trăm
năm, miễn là đương số vẫn giữ
ưu thế đối với người bạn trăm
năm và với tình địch. Phái nam
mà có Quyền, bao giờ cũng phải
dứt khoát, không chấp nhận
thành phần thứ ba trong cuộc
sống lứa đôi.
B. Cách nóng nảy
Bản Mệnh hỏa, Cục hỏa đều là
bừng chứng của sự nóng nảy.
Nếu Bản Mệnh hỏa gặp Cục mộc
thì tính nóng nhiều hơn. Có thể
chia các sao hỏa chỉ sự nóng
nảy làm hai hạng, dựa trên tính
chất hung hay cát của sao:
a. Hạng nặng:
- Địa Không ----------- Phục Binh
----------- Quan Phù
- Địa Kiếp ----------- Phi Liêm
----------- Quan Phủ
- Hỏa Tinh ----------- Đại Hao
----------- Thái Tuế
- Linh Tinh ----------- Tiểu Hao
----------- Tử Phù
- Thiên Không ----------- Lực sỹ
----------- Điếu khách
- Kiếp Sát ----------- Phá toái
----------- Bệnh
- Thiên Hình ----------- Tuế Phá
b. Hạng vừa:
- Thái Dương ----------- Thiên Quan
----------- Nguyệt Đức
- Liêm Trinh ----------- Thiên Phúc
----------- Đẩu Quân
- Thiên Khôi ----------- Thiên Đức
----------- Văn Tinh
- Thiên Việt ----------- Thiếu
Dương
- Thiên Mã ----------- Hỷ Thần
Các sao hạng vừa là những quý
tinh, văn tinh, phúc tinh vì là
sao tốt nên hình thái nóng nảy
tương đối nhẹ hơn hung sát hao
bại tinh.
Tuy nhiên, không phải chỉ có sao
hỏa mới nóng nảy. Có nhiều sao
thuộc 4 hành khác cũng đồng
nghĩa. Chẳng hạn như Tướng Quân
(Mộc), Thất Sát, Trực Phù,
Kình Dương, Đà La (Kim), Thiên
Tướng, Tham Lang, Phá Quân, Hóa
Quyền, Thiên Sứ (Thủy), Thiên
Thương, Thiên La, Địa Võng, Tuyệt
(Thổ).
C. Cách tự ái
Liêm Trinh: chỉ sự khó tính,
khắc nghiệt, tự ái lớn, bắt
nguồn từ sự nóng nảy cố hữu
hoặc từ những nguyên tắc xử thế
mà đương số xem là bất di, bất
dịch phải có trong mối tương
quan giữa mình và kẻ khác. Hãm
địa, mức độ sẽ cao.
Hóa Quyền: đúng là tính tự phụ,
tự đắc, mạnh hơn nữa là tự cao
tự đại, kiêu ngạo, khinh bạc kẻ
khác, xem mình như cao hơn người,
coi rẻ người dưới, óc tranh
quyền cao, không chấp nhận lép
vế. Đối với con người có quyền
tước, niền tự ái này càng lớn,
thường có xu hướng độc tôn, độc
tài và hình thái rất lộ liễu.
Lâm Quan: chỉ sự khoe khoang, tự
đề cao, tự kỷ ám thị, thích
quảng cáo mình, thích được khen
tặng. Vì ý nghĩa tương đối
không đẹp nên Lâm Quan nhiều khi
chỉ hình thái tự ái không có
căn bản như tự ái hão, không
đúng chỗ, lúc nào cũng tự xem
mình cao hơn người, trịch thượng
một cách lố bịch mà chính
đương sự không biết, không nhận
thức được.
Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân: chỉ
sự tự ái ngầm, hoặc dưới hình
thức tự trọng hoặc dưới hình
thức tự kìm chế không bộc lộ.
Cả ba hội tụ nhau chỉ sự khó
tính, ít giao thiệp, ít cởi mở,
thúc thủ vì không ai ăn ở vừa
ý mình, chung cuộc chỉ có mình
mới vừa ý mình. Theo nghĩa
khác, ba sao này chỉ sự nhút
nhát, khắc kỷ.
Tướng Quân, Thiên Tướng: chỉ
nóng nảy hơn là tự ái, nhưng đó
cũng là một hình thái tự ái
lớn, do sự thiếu nhẫn nhục khi
bị va chạm, xu hướng can thiệp
vào những chuyện bất bình dù
là của kẻ khác nhưng bị cho là
xúc phạm đến mình. Thiên Tướng
thì đôn hậu hơn trong khi Tướng
Quân thì xông xáo, tích cực,
hiếu thắng. Đứng riêng, hai sao
này chỉ sự tự ái đúng chỗ,
khi nào bị va chạm, hoặc bị kẻ
khác vi phạm vào những quy tắc
xử thế bất công. Nếu đi chung,
hai sao này biểu lộ niềm tự ái
lớn vô cùng.
Thiên Khôi, Thiên Việt: chỉ tinh
thần lúc nào cũng ganh đua và
cạnh tranh, ít khi chấp nhận
thua kém, dù là thua kém chút
ít. Tự ái của Khôi Việt chính
đáng và hướng thượng.
Quan Phù, Hóa Kỵ: tự ái của
hai sao này nhỏ mọn hơn, tinh
thần cạnh tranh thiên về đố kỵ,
ghen ghét, bực tức. Phù và Kỵ
không có khả năng thi đua, tranh
thắng bằng thiên hạ mà chỉ có
tinh thần ganh tỵ, thường biểu
lộ bằng nhiều thái độ không
mấy quang minh, chính đại.
Sát, Phá, Liêm, Tham: đây là
cách tự ái của con nhà võ,
bén nhạy, dễ bị khích động vì
cá tính của Sát, Phá, Liêm,
Tham rất mạnh, bao giờ cũng
chực áp đảo, lấn át kẻ khác.
Nếu đắc địa thì hình thái nhẹ.
D. cách ích kỷ
Không, Kiếp hãm địa (ở Tý, Sửu,
Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu và
Tuất): trong một lá số gian phi,
cao độ ích kỷ chưa từng thấy
vì đương sự đang tâm chiếm đoạt
tư hữu của thiên hạn bỏ túi
mình, thậm chí dùng thủ đoạn
phi nhân, phi pháp và ám muội để
làm lợi cho mình. Đây là tính
ích kỷ bất nhân, bất lương, làm
giàu phi nghĩa, coi thường đạo
đức, dư luận, luật pháp, sinh
mạng. Nếu đắc địa, tính ích kỷ
họa chăng sáng suốt hơn, tùy
trường hợp, tùy người mình giao
thiệp, nhưng tựu trung không mất
được tính chất vị kỷ.
Vũ, Tham: chỉ nết tham tiền,
hám lợi, nhiều khi bất chấp sự
phải chăng, nết của hạng ích kỷ
con buôn, trục lợi, chỉ biết
vét tiền, ít chịu xuất tiền
cho ai hoặc cho ai vay mượn, chỉ
biết có thu vào thôi. Những bộ
sao liên hệ có thể kể: Tham Lang
Hóa Lộc, Tham Lang Lộc Tồn, Tham
Lang Đại Tiểu Hao ...
Hóa Kỵ, Cự Môn: tính nhỏ nhen,
đố kỵ, ganh tỵ của sao này là
biểu hiện của tính ích kỷ,
không muốn ai hơn mình.
Quan Phù, Quan Phủ: ý nghĩa
cạnh tranh, ganh đua, câu chấp, đố
kỵ, coi nặng quyền lợi của
mình.
Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân: ba
sao này chỉ tính nết khó khăn,
không dung hợp được với bạn bè,
nặng về mình, ít chiều chuộng,
ít giao thiệp, thúc thủ, chỉ
biết sống cho mình: đó là
những nét cá tính của sự ích
kỷ. Ngoài ra, đối với tiền bạc,
ba sao này hà tiện, tiêu xài kỹ
lưỡng, suy tính nhiều nên ích kỷ
về tiền bạc.
Tử: chỉ sự suy xét tính toán
quá kỹ lưỡng trước khi hành
động, cái gì cũng mang ra bàn
tính hơn thiệt do đó không hào
sảng hay quảng đại.
Lộc Tồn: là cách chặt chẽ về
tiền bạc, do sự tính toán cân
nhắc trước khi tiêu xài, chưa kể
sự chắt mót, hà tiện khả hữu.
E. Cách đa ngôn
Thái Tuế: là sao điển hình cho
tính đa ngôn, ngồi lê đôi mách,
lúc nào cũng có đề tài phiếm
luận, thường nói về người khác
hơn là về mình. Là một khía
cạnh của sự hùng biện nếu Tuế
đi liền với sao văn học. Trái
lại, nếu ở lá số xấu, Tuế
thường chỉ họa vì lời nói, vạ
miệng khẩu thiệt, xuyên tạc,
thêm bớt.
Lưu Hà: chỉ sự nói nhiều, đôi
khi nhảm nhí. Đi với khoa tinh
thì hùng biện, giống nghĩa như
Thái Tuế với sao văn học.
Hóa Kỵ: nặng về phê bình kẻ
khác với ít nhiều ác ý, ghen
ghét.
Đà La, Thái Tuế: lời nói sai
ngoa, ngang bướng, bất chấp lẽ
phải, có tác dụng để cãi lộn
hơn là lý luận tranh biện. Tuế,
Đà là hạng người mỏng môi, bép
xép, lải nhải không dứt, gây sự
chán ghét, tạo ra vạ miệng, đôi
co, khích bác.
Phục Binh: chỉ sự nói xấu,
xuyên tạc, hại người khác bằng
vu cáo, gièm pha với nhiều tiểu
tâm.
===
1.
Cách họa qua các sao:
a.
Sát tinh: gây họa nặng nhất.
Sát tinh làm cho mất mạng, chấm
dứt luôn sự nghiệp, tài sản,
gia đạo, ảnh hưởng sâu rộng đến
rất nhiều lĩnh vực. Đối với
công danh, sát tinh tiêu diệt quý
cách, chấm dứt cơ nghiệp.
Đối với tài sản, sát tinh tiêu
diệt phú cách. Sự hiện diện
của sát tinh ở những cung chỉ
phú quý có nghĩa là đương số
vừa nghèo, vừa hèn tức là
không có tài sản, không có chức
phận. Đối với gia đạo, sự hiện
diện của sát tinh ở Phu Thê báo
hiệu cho sự sát phu, sát thê, sự
gián đoạn vợ chồng dưới hình
thức ly hôn, ly thân hoặc vợ
chồng phải sống xa cách nhau lâu
năm, chưa kể các trường hợp bị
ruồng bỏ vì ngoại tình hoặc
đâm chém nhau vì xung đột hay
khảo của. Đối với con cái, sát
tinh là dấu hiệu sự sát con,
con cái không vẹn toàn, sinh
nhiều nuôi ít, hoặc bị tàn tật
hoặc thuộc thành phần côn đồ,
du đãng, gây phiền nhiễu cho cha
mẹ, phá tán tài sản, ăn hết di
sản lại còn mắc nợ, tạo nợ
cho cha mẹ. Được xem là sát tinh
có 8 sao: Địa Kiếp, Địa Không,
Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh
Tinh, Thiên Không, Kiếp Sát. Càng
hội tụ nhiều, càng bị hãm địa
nhiều, những tai biến và thiệt
hại kể trên càng dễ xảy ra sớm,
mau, nặng nề. Sát tinh tụ hội
ở cung nào thì cung đó bị ảnh
hưởng nhiều nhất.
b. Hình tinh: tạo ra hình ngục,
ảnh hưởng đến tự do cá nhân,
kiện cáo di lụy đến uy tín cá
nhân. Gặp hình tinh, trong trường
hợp là nạn nhân, đương số sẽ
bị giam cầm, tra tấn, đói khát,
hành hạ thể xác và tinh thần,
có thể bị đau ốm hay tật
nguyền trong thời gian bị bắt
giữ, có thể bị đầy ải ở chỗ
rừng thiêng nước độc hoặc bị
cầm cố ở xà lim chật hẹp, dơ
dáy. Mức độ nhẹ hơn, hình tinh
là dấu hiệu của sự kiện tụng,
sự điều tra. Trong trường hợp
này, uy tín, tài sản có thể
bị hao hụt, chưa kể những lo
lắng cạnh tranh, thù hằn phải
gánh chịu. Hình tinh là các sao:
Thiên Hình, Quan Phù, Thiên La,
Địa Võng, Thái Tuế, Quan Phủ,
Liêm Trinh (chỉ hình ngục, quan
tụng một cách trực tiếp).
c. Bại, hao tinh: làm cho lụn
bại, hao tán chẳng hạn như bị
bệnh nan y, bị giáng chức, mất
của, hao tài, tang khó, thân nhân
đau ốm, tai nạn, vợ chồng nghi
kỵ, anh em bất hòa, nhân tình
ruồng bỏ. Hao bại tinh gồm có:
Tang Môn, Bạch Hổ, Đại Hao, Tiểu
Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư. Sát
tinh và hình tinh nhất định góp
phần tăng cường hiệu lực cho hao,
bại tinh hoặc là nguyên nhân,
hoặc là hậu quả của hao bại
tinh.
d. ám tinh: là những sao gây trở
ngại, trục trặc. ứng dụng cho
cá nhân, ám tinh có thể là vài
tính nết đặc biệt kìm hãm sự
tiến thủ của con người về mặt
công danh tài lộc. Trường hợp
đương số là nạn nhân, ám tinh
tượng trưng cho tiểu nhân, đố kỵ,
phá hoại, ganh ghét làm cản trở
bước tiến của mình. ứng dụng
cho công danh, ám tinh chỉ sự
cạnh tranh trong quan trường, sự
trục trặc về thủ tục, hoàn
cảnh bất lợi cho thăng tiến.
Các hình thái này cũng ứng
dụng cho tài lộc. ứng dụng cho
gia đạo, ám tinh là sự cản trở
hôn nhân, sự phá hoại hôn nhân
hoặc là sự xâm nhập của một
người thứ ba vào đời sống vợ
chồng, sự bắt ghen, sự gièm pha,
chim vợ/chồng người khác ... ám
tinh gồm các sao: Hóa Kỵ, Cự
Môn, Phục Binh, Thiên Riêu, Thiên
Không Phá Quân, Thái Tuế, Tử Phù,
Suy, Tử, Trực Phù, Tuần, Triệt,
Cô Thần, Quả Tú, Tuế Phá, Thiên
Thương, Thiên Sứ.
e. Sao trợ họa: Hầu hết sát
tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám
tinh đều hỗ trợ cho nhau để gây
tác hại dây chuyền. Những sao
trực tiếp trợ họa bao gồm: Tả
Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền, Quan
Đới làm xấu thêm, nặng hơn.
Riêng sao Thiên Tài thì làm xấu
ảnh hưởng của Thái Dương và
Thái Âm miếu, vượng địa.
2. Họa cho cá nhân
a. Họa của phái nam:
+ Họa đến tính mạng hoặc cơ thể:
Không, Kiếp, Binh, Hỏa, Linh: tai
nạn binh lửa. Có khi không cần
phải hội đủ cả 5, chỉ cần 3
cũng đủ (tối thiểu phải có
Địa Không hoặc Địa Kiếp và Hỏa
Tinh hoặc Linh Tinh). Kiếp Không
chỉ các tai nạn bất khả kháng,
dữ dằn, nặng nề, thủ phạm rất
lợi hại và hung bạo, hành động
bất ngờ và nhanh chóng. Phục
Binh chỉ sự ám hại, phục kích,
thường có tòng phạm giúp đỡ.
Hỏa hay Linh chỉ họa lửa như
phỏng lửa, chết cháy, bị bom,
bị đạn, bị chất nổ ... Nếu có
thêm sát tinh, hình tinh, hao bại
tinh khác thì càng dễ chết.
Nếu gặp trợ họa như Tả Phù,
Hữu Bật, Hóa Quyền thì họa
hại càng khó tránh. May ra gặp
được nhiều sao giải mạnh mẽ
hội tụ trong bối cảnh Phúc,
Mệnh, Thân tốt mới khỏi, có thể
chỉ bị thương.
Phi, Việt: hội với sát tinh,
đặc biệt là Không Kiếp Hỏa, hai
sao này chỉ lằn tên mũi đạn,
đặc biệt là sao Phi Liêm. Bộ sao
này thường ứng cho các tai nạn
trên phi cơ hoặc họa về điện hay
bị sét đánh.
Lưu Hà hoặc Cự, Kỵ: đi với sát
tinh, đặc biệt là Không Kiếp,
Lưu Hà chỉ họa ở dưới nước.
Kình, Đà: ám chỉ thương phế
nhưng đi với Không, Kiếp vẫn có
thể chết. Thương phế thường xảy
ra cho tay chân. Đi với Hỏa, Linh
thì phỏng ở tay chân.
Hình, Kiếp Sát: chỉ tai nạn
nói chung, cụ thể là thương
tích có thể đi đến mổ, cưa. Đi
với sát tinh, đặc biệt là Không
Kiếp, có thể chết vì binh đao
hay vì bị mổ xẻ.
Quan Đới: đi với sát tinh chỉ
cái chết bất đắc, chết mau
chóng.
Tử, Tuyệt: chỉ cái chết nếu đi
chung với sát tinh.
La, Võng: gặp sao tốt thì thành
hung, từ đó góp phần gây họa
vào các hạn xấu.
Thương, Sứ: chỉ dùng để xem hạn.
Đi với sát tinh, Thương Sứ tác
họa, không hẳn là họa binh đao.
Tướng, Hình - Tướng, Tuần hay
Triệt: tác họa rất thảm khốc,
cụ thể như chết trận, rớt máy
bay, bị phục kích, thông thường
chết nát thây có khi không tìm
ra xác. Bộ sao này đóng ở Phúc,
Mệnh, Thân, Tật hoặc Hạn đều
nguy hại như nahu, không kém gì
Không Kiếp Binh Hỏa Linh kể trên.
Mã, Hình: báo hiệu điềm bất
tường, tai họa thảm thương.
Tướng, Binh, Tử, Tuyệt: chỉ họa
binh đao hay họa chiến tranh.
Mã, Tuần hay Triệt hay Kình, Đà:
chỉ thương tích tay chân do binh
đao hay tai nạn.
Kình, Đà, Tuần hay Triệt hoặc
Không, Kiếp: như trên.
Kiếp, Hình, Quan Đới: chết bất
đắc, do mổ xẻ hoặc binh đao.
Sát, Hình hay sát tinh: bị ám
sát, bị ám hại, tử trận.
Hỏa hay Linh, Kiếp, Không: tai
họa rất dễ xảy ra, nhất là khi
nhập hạn gặp phải.
Sát, Liêm ở Sửu Mùi - Sát, Hỏa,
Hao - Phá, Hỏa, Hao - Sát (hay
Phá), Việt, Hình: báo hiệu tai
nạn binh đao.
+ Họa ngục hình, quan tụng hại
đến tự do và uy tín cá nhân:
Thiên Hình: trừ phi đắc địa, trừ
phi đương số hành nghề cảnh sát,
thẩm phán, tình báo, trạng sư,
Thiên Hình bao giờ cũng có
nghĩa hình tù. Số tốt lắm thì
Hình ứng về sự điều tra của
cảnh sát, của tòa án, của
giám sát viện hay của cơ quan an
ninh tình báo. Trong trường hợp
hành nghề thẩm phán, luật sư,
cảnh sát, tình báo, tố tụng,
Hình chỉ nghề nghiệp, chức vụ,
quyền hành bắt giam hay xét xử
người khác hoặc kiện thưa kẻ
khác. Đi với cát tinh, hao bại
tinh, ám tinh, hình tinh khác,
Hình càng có nghĩa kiện và tù
và bao giờ đương số cũng là
nạn nhân. Có thêm sát tinh, tù
tội nặng thêm, hình ngục khó
thoát, làm cho tán mạng hay tán
tài vì hình ngục. Đi với hao
bại tinh, đương số khốn quẫn về
tinh thần lẫn vật chất như lo sợ
hoang mang, chán nản, tuyệt vọng,
trốn tránh, mai danh ẩn tích mà
lúc nào cũng sợ bị bắt, hoặc
phải nuôi chí trả thù mà khổ
sở. Cũng có thể hao bại tinh
có nghĩa là trong thời gian thọ
hình, đương số phải chịu nhiều
cực hình như tra tấn, bỏ đói,
hành hạ, đầy ải, mắc bệnh nan
y.
Liêm Trinh hãm địa: chỉ sự bắt
bớ, giam cầm, ở tù. Dù hành
nghề gì mà Mệnh, Thân, Quan có
Liêm hãm thì vẫn có thể bị
hình tù như thường. Do đó, Liêm
Trinh hãm địa ác hiểm hơn Thiên
Hình nên đi với sát tinh rất dễ
bị tù, bị kiện: Liêm, Kình, Đà,
Linh, Hỏa - Liêm Hổ - Liêm, Kiếp,
Hình ở Mão, Dậu - Liêm, Tham ở
Tỵ và Hợi - Liêm, Kình - Liêm,
Cự, Kỵ. Tuy nhiên, trường hợp
Liêm Tham ở Tỵ và Hợi có Hóa
Kỵ hay Tuần, Triệt đồng cung sẽ
hóa giải hình tù của Liêm.
Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ:
chỉ bị kiện, bị điều tra, bị
chỉ trích, bị vu cáo, bị nói
xấu. Đi với sát tinh, khó tránh
tù hay thanh toán vì tư thù,
thưa kiện rất lôi thôi. Quan tụng
liên hệ đến ba sao này thường
là tội lường gạt, bội tín,
quỵt nợ, sang đoạt. Quan Phù,
Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự
lợi dụng lòng tin, sự xé lẻ,
rã đám. Thái Tuế chỉ khẩu
thiệt, cãi vã, chửi bới, chỉ
trích, bút chiến, công kích.
Thiên La, Địa Võng: chỉ sự bắt
bớ, giam cầm hoặc tối thiểu
cũng gây trở ngại cho công việc,
kìm hãm sự thăng tiến. Hình
tụng, kiện tụng chỉ có khi La
Võng đi kèm với sát hay hình
tinh trong cục diện Mệnh, Thân
xấu.
Hóa Kỵ: có nghĩa kiện tụng.
Chất của Hóa Kỵ là ganh ghét,
ích kỷ, đố kỵ, nói cấu, vu
khống để hãm hại người khác
một cách tiểu nhân, nhỏ mọn.
Quan tụng của Hóa Kỵ tương tự
như Thái Tuế. Đi với Thái Tuế,
Hóa Kỵ luôn nói xấu thiên hạ,
ngồi lê đôi mách, đưa đến đôi co,
đối chất, kiện thưa vì ngôn ngữ
bất cẩn.
Đà La: chỉ sự ngoan cố, ngỗ
ngược, bướng bỉnh, hẹp hòi, câu
chấp và có ý nghĩa kiện tụng.
Đặc biệt đi với Kỵ, Tuế thì
quan tụng rất rõ. Có Đà La,
thua kiện cũng không đầu hàng,
còn tìm cách chống án, chạy
chọt, vận động cho được phần
hơn.
Cự Môn hãm địa (ở Thìn, Tuất,
Sửu, Mùi, Tỵ): có ý nghĩa
kiện cáo, nhất là đi chung với
Hóa Kỵ, Thiên Hình hoặc sát
tinh, ý nghĩa giống như Hóa Kỵ.
Cách kiện tụng và ngục hình
còn do một số bộ sao dưới đây
quảng diễn: Xương, Khúc ở Tỵ và
Hợi - Xương, Khúc, Phá ở Dần -
Nhật, Nguyệt, Riêu, Đà, Kỵ -
Binh, Kỵ, Hình - Binh, Phù, Hình.
+ Họa sắc dục:
Nếu cung Phúc có Tang Môn, Đào
Hoa, Hồng Loan và Thai thì dòng
họ có người chết vì thượng mã
phong. Nếu 4 sao đó đóng ở Mệnh,
Thân hoặc Tật thì họa đó xảy
ra cho mình.
Họa bị đánh đập vì đam mê tửu
sắc có ba bộ sao: Tham, Đà ở Tý
- Tham, Đà ở Dần - Tham, Vũ
đồng cung gặp Phá.
Đau khổ vì tình: Tang Môn, Bạch
Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư, Lưu
Tang, Lưu Hổ, Lưu Khốc, Lưu Hư.
Ngăn trở ái tình: Phục Binh,
Hóa Kỵ, Cự Môn, Thiên Không,
Kình Dương, Đà La hãm địa, Tuần,
Triệt.
Sao chỉ sự phản bội: Quan Phù,
Quan Phủ, Thái Tuế.
Sao chỉ sự xui xẻo: Địa Không,
Địa Kiếp, Thiên Hình
Sao thay cũ đổi mới: Thiên Mã,
Thiên Đồng, Đại Hao, Tiểu Hao,
Thai.
b. Họa của phái nữ:
+ Họa trinh tiết:
Thai, Phục, Kiếp hay Không: chỉ
sự hiếp dâm, có thể là hiếp
tập thể.
Thai, Phục - Thai, Kiếp hay Không
- Riêu, Phục - Riêu, Không, Kiếp -
Tham, Phục - Tham, Không, Kiếp -
Đào, Phục - Đào, Không, Kiếp -
Đào Riêu, Không, Kiếp - Đào,
Thai, Không, Kiếp: thất trinh
thất tiết.
Đào, Riêu: lăng loàn, đàn bà
ngoại tình, có khi không phải
với một người. Hồng Loan, Riêu
cũng có nghĩa tương tự.
Đào, Thai: tiền dâm hậu thú.
Đào, Thai, Riêu: gái giang hồ.
Cự, Kỵ hay Tham, Kỵ: ám chỉ sự
mất trinh, sự bất hạnh trong
tình ái.
Thai, Hình, Hỏa, Tang, Hổ, Kiếp:
chỉ sự hiếp dâm đi liền với án
mạng, tượng trưng cho sự thanh
toán vì tình, sự trả thù của
tình nhân ác độc.
3. Họa cho nghề nghiệp:
a. Cách chức, thôi việc:
Tuần, Triệt ở cung Quan: trắc
trở cho quan trường bằng nhiều
hình thái: chậm công danh, công
danh vất vả, thấp kém, không
bền vững, thăng giáng thất
thường. Sao Triệt báo hiệu sự
gãy đổ ít nhất một lần trong
sự nghiệp. Sao Tuần tác họa nhẹ
hơn nhưng lâu dài hơn. Gặp cả
Tuần, Triệt đồng cung thì tai
họa nghề nghiệp vừa nặng, vừa
nhiều. Tuy nhiên:
– Tuần, Triệt gặp Âm, Dương ở
Sửu, Mùi thi không phá mà làm
vượng quan.
– Tuần, Triệt gặp Sát, Phá,
Liêm, Tham hãm tối hay bại tinh
mờ ám cũng làm vượng quan.
– Tuần, Triệt gặp Tử, Phủ, Cự,
Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương
sáng sủa thì bất lợi cho chức
vụ rất nhiều như chậm quan,
chóng tàn, gặp hung họa, thăng
giáng thất thường. Nếu tám sao
trên mà hãm địa thì khá hơn,
tức là gặp khó khăn, thất
thường trong việc thăng tiến
nhưng tựu chung có chức vị khá
lớn, nhất là về sau.
– Tuần, Triệt gặp Sát, Phá,
Liêm, Tham đắc địa cũng còn đỡ
khổ, không đáng lo ngại về sự
thăng giáng hay gãy đổ sự
nghiệp. Nếu hãm địa thì lại
đẹp: công danh bộc phát mạnh
mẽ.
Cung Quan vô chính diệu cần có
Tuần, Triệt trấn thủ tại đó
mới hay. Bằng không thì dễ sa
sút. Nếu chính tinh xung chiếu
mà sáng sử thì còn khá, ngược
lại nếu mờ tối thì bất lợi.
Thiên Tướng gặp Tuần, Triệt thì
dù được đắc địa, quan chức
không những bị truất giáng mà
còn dễ chết thảm khốc. Tướng
Quân gặp Tuần, Triệt cũng lâm
vào họa hại như thế.
Không, Kiếp: chỉ sự thăng trầm,
lên voi xuống chó. Hãm địa thì
càng nguy, chắc chắn phải ít ra
một lần mất chức nhục nhã, bị
đổi đi xa vì kỷ luật, chưa kể
những hung họa dẫy đầy, dễ
chết vì binh lửa, chiến nạn.
Như vậy, sự gián đoạn chức vụ
có thể bắt nguồn từ hai nguyên
nhân bị chết hoặc bị cách chức.
Còn những họa nhỏ khác như vất
vả, đè nén, đố kỵ thì khỏi kể.
Tai họa công vụ của Không Kiếp
cũng còn do tật xấu của chính
mình. Người có Không Kiếp có
lá số xấu thường xử xự bằng
thủ đoạn, bá đạo, ám muội, phi
pháp, kiểu như tham lận, cướp
của, hối lộ, tham nhũng, buôn
lậu, biển thủ đưa đến việc mất
chức.
Thiên Hình, Thiên Tướng, Tuần,
Triệt: Hình hãm địa ở Quan có
nghĩa gián đoạn công vụ vì bị
ngục tụng, những tai bay vạ gió
làm cho viên chức phải bị liên
lụy trong quan trường, chẳng hạn
như bị khiển trách, bị điều tra,
bị ngưng chức, bị truy tố, bị
sa thải. Nếu đi với sát tinh, dễ
bị hình tù vì Thiên Hình chỉ
hình phạt, bằng kỷ luật hay
bằng tòa án. Cho dù Hình gặp
Tuần hay Triệt, ngục tụng cũng
khó tránh. Cũng đồng nghĩa đó
nếu Hình đi với Thiên Tướng ở
cung Quan. Nếu có thêm Thiên Khôi,
sẽ có thể bị mất đầu. Những
họa nói trên sẽ tránh được nếu
đương sự bị đau phải mổ hay bị
chết nhưng dù sao, Tướng Hình
Khôi ở Quan bao giờ cũng đập
nặng vào chức vụ: Thiên Hình ở
Quan là hình thương đến công vụ.
ý nghĩa này vẫn tồn tại nếu
Hình đi chung với Liêm Trinh; với
Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ;
với Hóa Kỵ; với Cự Môn hãm
địa ...
Hóa Quyền, Thiên Hình hay Tuần,
Triệt: Hóa Quyền tượng trưng cho
quan tước, gặp Hình hay Tuần,
Triệt thì có gián đoạn công
vụ, thông thường là bị bãi
nhiệm, bị đổi chỗ hoặc phải
thôi việc. Nếu có chức phận
cũng không giữ được lâu bền,
phải từ bỏ vì một nguyên nhân
nào đó. Những sao đồng nghĩa
với Hóa Quyền mà gặp một trong
ba sao này cũng rơi vào tai họa
tương tự. Đó là các bộ sao:
Quốc ấn, Thiên Hình hay Tuần,
Triệt; Phong Cáo, Thiên Hình hay
Tuần, Triệt; Thái Dương hãm,
Thiên Hình hay Tuần, Triệt. Thông
thường, ý nghĩa mất việc chỉ
rõ ràng nếu bộ sao này đóng
đồng cung ở Quan, nếu chỉ hội
chiếu thì việc mất chức không
rõ ràng lắm, có thể là tự ý
thôi việc. Một số quý tinh khác
như Thai Phu, Đường Phù gặp Tuần,
Triệt hay Hình không đến nỗi
nặng lắm, có thể có nghĩa như
hụt thăng trật, hụt huy chương
...
Tuế, Đà, Kỵ: hội ở cung Quan
chỉ mọi sự xui xẻo liên tiếp do
sự tố cáo, chỉ trích, vu khống,
xuyên tạc, đố kỵ, cạnh tranh
làm cản trở bước tiến quan lộc,
từ đó có thể đưa đến sự thôi
việc, sự thay đổi công việc. Vì
có Đà La, bộ sao này cho thấy
có sự tranh cãi, gây lộn, ăn
thua, khiếu nại, có khi ẩu đả
giữa đồng nghiệp, xô xát với
cấp chỉ huy để rồi cuối cùng
gián đoạn công vụ.
b. Đè nén, đố kỵ
Phục Binh: điển hình cho sự hãm
hại bằng thủ đoạn ngầm, sự đố
kỵ, ghen ghét giữa đồng nghiệp
hay giữa mình với cấp chỉ huy.
Phục Binh còn có nghĩa âm mưu,
kết bè, kết phái để đào thải,
loại trừ đối thủ, có khi tổ
chức phục kích, ám sát, thanh
toán hoặc gài đương sự vào chỗ
chết, chỗ kẹt, chỗ bị án, bị
tù, bị quy trách. Thông thường,
Phục Binh hay sử dụng mánh lới,
thủ đoạn bất chính và bí mật
để phá hoại đồng nghiệp, có
khi liên kết với tòng phạm, bè
cánh, tổ chức. Nếu có Tả Phù,
Hữu Bật đi kèm thì nạn nhân
phải chạm trán với cả một hệ
thống chằng chịt bao gồm nhiều
tay sai ở nhiều ngõ ngách, muốn
khiếu nại cũng không được như
ý, nhiều khi chẳng đi đến đâu.
Hóa Kỵ: chỉ đó kỵ, ganh ghét,
cạnh tranh bằng thủ đoạn gièm
pha, thêm bớt, thọc gậy. Hóa Kỵ
là người bị nghi ngờ, bị theo
dõi, bị để ý. Đi chung với
Phục Binh, sự đố kỵ có tính
cách ám hại, tầm thù, chẳng
những bằng lời nói mà còn
bằng hành động. Đi với Thiên
Hình, Hóa Kỵ dễ sinh quan tụng,
thưa gửi, khiếu nại, điều trần,
cảnh cáo, khiển trách, ẩu đả
lẫn nhau. Chỉ trừ khi đi với
Thanh Long mới đẹp.
Thiên Không: chỉ phần tử lưu manh
trong công/tư sở, chuyên môn phá
hết kẻ này đến người khác,
thọc gậy bánh xe, cản trở bước
tiến của đồng nghiệp với ác
tâm, có tà ý, âm mưu phá hoại.
Bị Thiên Không, viên chức khó
lòng ngóc đầu lên nổi, bị khép
trong kỷ luật, khống chế, mình
làm mà thiên hạ hưởng, bị cấp
trên hay cấp ngang cướp công.
Đà La, Kình Dương: chỉ sự ngăn
trở quan trọng vì ganh đua, cạnh
tranh gay gắt. Tại vị trí hãm
địa, đương số là nạn nhân của
chia rẽ, phân hóa trong nghề
nghiệp, làm việc nặng nhọc,
gánh trách nhiệm mà bị tội vạ,
hiểu lầm, khiển phạt. Những
bạc bẽo của nghề thường do hai
sao này quảng diễn.
Cự Môn hãm địa: đồng nghĩa với
Hóa Kỵ nhưng nặng nề hơn. Con
người Cự Môn cũng như Hóa Kỵ
lúc nào cũng bất mãn, mưu tìm
sự canh cải theo ý mình, không
bảo thủ mà đấu tranh thay đổi
thành phần bảo thủ. Nếu đắc
địa thì việc đấu tranh có cơ
hội thành công, trái lại, Cự Kỵ
sẽ là nạn nhân của thái độ
cấp tiến của mình, gánh lấy
hậu quả của sự kìm chế, đè
nén, cô lập. Đi chung với các
sao ám khác như Thiên Không, Kình
Dương, Đà La, Phục Binh, là
những người hay kết bè kết
đảng để đấu tranh. Nếu có sát
tinh đi kèm thường có đổ máu,
hình ngục, thanh toán, trả thù
qua lại.
Tuế, Đà, Kỵ: tượng trưng cho
những xui xẻo liên tiếp trong
quan trường, trong nghề nghiệp,
trong đó có sự đè nén, thị
phi, gièm pha, đố kỵ.
Đại Hao, Tiểu Hao: đi chung với
quyền, quý, dũng tinh, Nhị Hao
thường chỉ sự sa sút hậu thuẫn,
sự sút kém tín nhiệm, sự mất
mát thế lực. Viên chức có Song
Hao ở Quan, ngoài ý nghĩa hư
danh, hư quyền, bị tổn thương uy
tín, thất sủng, từ đó làm
việc gì cũng không lâu bền, ở
với ai cũng khó hòa hợp, có
thể ngồi xơi chơi nước hay được
giao những công việc chạy vặt,
liên lạc, kém quan trọng. Về
mặt tâm lý, Đại Tiểu Hao ở Quan
còn chỉ những người đứng núi
này trông núi nọ, bất mãn không
khí đang sống, lúc nào cũng
chực hờ, tìm chỗ tốt, chỗ bở,
hay thay đổi chức vụ mà chũng
chẳng hiển vinh gì bao nhiêu.
Tính tình của Nhị Hao thường
bất nhất, không bền chí, không
kiên tâm tiến thủ trên cái gì đã
có mà chỉ lo đổi chỗ để tìm
lợi lộc, tìm thăng tiến. Nếu
được đắc địa thì Nhị Hao có
lợi hơn về mặt tài lộc, kinh
nghiệm.
Thiên Khốc, Thiên Hư hay Tang Môn,
Bạch Hổ: Trừ phi đắc địa ở Tý
Ngọ, Khốc Hư ở Quan biểu tượng
cho những ưu tư, lo buồn, hoang
mang, sợ sệt khi hành nhiệm.
Ngoài ra, còn có đặc tính bị
khinh ghét, chê bai vì bất lực,
bất hòa. Người có Khốc Hư ở
Quan không thoải mái trong công
việc, phải quan tâm lo lắng
nhiều mối, vì nhiều lý do, có
khi phải gánh chịu nhục nhã,
xấu hổ bởi tai tiếng, bởi thị
phi. Nếu đắc địa, các sao này
chỉ uy tín và hoạt động chính
trị cũng như năng tài hùng biện,
giáo khoa, tâm lý chiến.
c. Bất dụng, sai dụng, thiểu
dụng:
Lực Sỹ, Kình Dương: tượng trưng
cho sự bỏ quên, việc ngồi chơi
xơi nước, việc nghỉ giả hạn.
Lực Sỹ chỉ tài năng, sự tháo
vát, linh hoạt, lanh lợi đồng
thời cũng ám chỉ thành tích,
công lao, chiến tích. Kình Dương
chỉ sự ngăn cản, trở lực, trục
trặc trong công danh. Cả hai hội
ý chỉ sự thi thố không hết mức
tài năng, sự đãi ngộ bất xứng
với thành tích, sự thiểu dụng,
từ đó nảy sinh sự bất mãn,
bất đắc chí. Kình Lực không
nhất thiết ngụ ý người có tài
mà lắm khi ngụ ý người tự cho
rằng mình có tài, vì bị bạc
đãi nên bất mãn. Kình Lực đôi
khi chỉ tham vọng, sự cậy tài,
sự ỷ lại quá đáng làm cho
quần chúng ghét bỏ, xa lánh.
Thiên Mã, Tràng Sinh ở Hợi:
Thiên Mã thông thường chỉ tài
năng. Gặp thêm Tràng Sinh là có
cơ may tiến đạt. Nhưng hiềm vì
ở cung Hợi cho nên năng tài này
bị chìm trong bóng tối. Đây là
hạn người kém may, không có cơ
hội thi thố được, hoặc chỉ có
danh mà không có quyền, chỉ có
hư vị hơn là thế lực, hoặc bị
đặt vào chỗ tượng trưng để lợi
dụng uy tín chứ không phải để
hành sử quyền binh. Công lao của
Mã Sinh ở Hợi thường chỉ ở
trong bóng mờ, hay bị người
khác lấn át. Nếu gặp Phục Binh,
ngụ ý người có tài mà bị
ruồng bỏ, bị gièm xiểm, bị
đào thải ...
Thiên Mã, Tuần, Triệt: không chỉ
tai nạn xe cộ mà chỉ sự bất
dụng, sự thiếu may mắn trong
nghề nghiệp, làm cái gì cũng
thất bại, tai ương, xui xẻo
khiến cho thượng cấp mất dần
tín nhiệm, không dám giao phó
đại sự. Cho nên, công danh của
Mã, Tuần, Triệt tương đối nhỏ.
Lộc Tồn, Tuần, Triệt: Lộc Tồn
cũng chỉ tài năng như Thiên Mã,
đặc biệt là tài tổ chức,
quyền biến, khai sơn phá thạch,
có nhiều sáng kiến giải quyết
mọi việc. Gặp Tuần Triệt, tài
năng, cơ may bị tiêu tán. Đó là
trường hợp những người bị
thiểu dụng, bị uổng dụng, bị
sai dụng.
Thiên Tài: đi chung với Nhật,
Nguyệt sáng sủa sẽ làm mất đi
sự tốt đẹp, làm giảm ánh sáng
của Nhật, Nguyệt. Đó là trường
hợp tài năng thiếu cơ hội.
Tại cung Quan vắng bóng những
sao trợ quyền, những sao may mắn
thì tài năng thường cô độc,
thiếu người công lực, nâng đỡ,
thiếu may mắn của thời cuộc. Đó
là những sao Ân Quang, Thiên Quý,
Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Quan,
Thiên Phúc, Thanh Long-Lưu Hà,
Thanh Long-Hóa Kỵ, Thiên Mã-Tràng
Sinh (trừ ở Hợi), Bạch Hổ-Phi
Liêm, Tràng Sinh-Đế Vượng, Thiên
Hỷ-Hỷ Thần, Tứ Linh, Tam Hóa
...
4. Họa cho tài sản: thường hay
xuất hiện ở hai cung Điền và
Tài, ở những cung chiếu Điền (Tử,
Tật, Bào), chiếu Tài (Phúc,
Quan, Mệnh), cung Thân và các
cung Hạn.
a. Những đại họa tài sản:
Địa Không, Địa Kiếp hãm địa:
trong bối cảnh một cung Điền hay
cung Tài xấu vì chính tinh hãm
địa, sự hiện diên của 1 trong 2
sao hoặc của cả 2 sao này báo
hiệu hiểm họa lớn lao cho tài
sản, họa lớn, có tính chất
bất khả kháng, ảnh hưởng đến
nhiều người cùng một lúc. Có
thể hình dung Không Kiếp như một
tai họa chiến tranh làm tiêu tán
tài sản, nạn lạm phát đồng
tiền, thiên tai lớn, hành vi
pháp lý của Nhà nước có hậu
quả nặng nề đến cuộc làm ăn
của toàn dân, việc quốc hữu
hóa các công ty thương mại ...
Mặt khác, Không Kiếp còn có thể
tượng trưng cho sự cướp của, sự
hủy hoại tài sản cá nhân, sự
đốt nhà, phá hoại hoa màu ...
Nếu hội với sao xấu như Phá
Toái, Kiếp, Sát thì hệ số họa
sẽ lên cao, nguy hiểm nhiều hơn.
Càng hội tụ nhiều, số lượng
càng chồng chất, họa vô đơn
chí.
Thiên Không: hậu quả của Thiên
Không trên tài sản cũng gần
tương đương như Địa Không, nhất
là khi tọa thủ ở Tài, Điền và
nhất là khi gặp thêm hạn xấu.
Hội với Địa Không, Địa Kiếp,
sức tác họa càng dữ thêm, có
hại đến cả sinh mạng. Thông
thường, Thiên Không rơi vào cung
hạn thì tác họa mạnh mẽ hơn
bình thường: các dự định đều
thất bại, sự nghiệp sa sút, mua
bán thua lỗ, mất của thường do
lường gạt, lừa đảo, có khi
vướng vào tù tội.
Tuần, Triệt đồng cung ở Điền,
Tài: dù Điền hay Tài có chính
tinh hay không, có cát tinh đi
nữa thì cũng không quân bình
được bất lợi của cả Tuần lẫn
Triệt đồng cung. Hai sao này hợp
nhất phối hợp phá hoại tài
sản đến cùng. Gặp chúng, cá
nhân không có di sản, dù có
cũng bán hết hoặc không thể thụ
hưởng, thường phải tự lực lập
nghiệp nhưng có rồi lại dễ mất
ngay vì họa, hoặc vì túng
thiếu. Đây là bộ sao điển hình
của vô sản.
Kình Dương, Đà La hãm địa: cũng
báo hiệu họa tài sản, dưới
hình thức phá tán tổ nghiệp,
điền trạch cũng như tiền bạc.
Đi với Không, Kiếp, Thiên Không,
ý nghĩa họa càng chắc chắn hơn
và họa nhất định nặng hơn. Đặc
biệt vào cung hạn, nếu Kình Đà
gặp Lưu Kình, Lưu Đà thì họa
đến mau chóng và khủng khiếp.
Nếu Kình Đà và hai sao Lưu lại
tọa thủ hoặc xung chiếu vào
Điền, Tài thì họa vào sản
nghiệp hiện có thay vì di sản.
Hỏa Tinh, Linh Tinh: chỉ riêng
mối họa lửa, dù Hỏa Linh đơn
thủ hay hội họp với sát hao
tinh khác. Hai sao này đi chung
với một số sao khác cũng mang
ý nghĩa tương tự như: Hỏa Kiếp
Cơ, Hỏa Tang, Linh Hình Việt, Phi
Hỏa, Cự Hỏa, Cơ Hỏa, Hỏa Linh
Tướng Binh. Chỉ riêng bộ sao Hỏa
Tướng Binh hay Linh Tướng Binh có
nói ít nhiều đến nguyên nhân
hỏa hoạn: đó là việc gian phi
đốt nhà, đốt ruộng, đốt hoa
màu, hàng hóa.
Lưu Hà: thủy họa đối với tài
sản, đi chung với Địa Không, Địa
Kiếp chỉ tại họa lớn: nước
lụt đắm tàu, hoa màu úng thủy,
hàng hóa bị ngập nước ...
Đại Hao, Tiểu Hao: Trừ phi đắc
địa ở Mão, Dậu (có tiền của
dồi dào), Nhị Hao bao giờ cũng
phá tán của cải, hao hụt điền
sản thường là do cái đà ăn xài
quá lớn không kìm hãm được nữa.
Song Hao ở Điền, Tài thường
xuyên có chuyện tốn kém, lớn
có nhỏ có và liên tiếp. Sự hao
tán của bộ sao này gần như
triền miên. ở Điền, Nhị Hao ngụ
ý phải lo "một kiểng hai huê".
ở Tài thì luôn luông có chuyện
phải tiêu lớn, tiêu nhỏ. Nếu
Thiên Không tối kỵ ở cung Quan
thì Nhị Hao tối kỵ ở cung Tài
và cung Điền. Ngoài ra, về bệnh
tật, Nhị Hao phải tốn vì một
bệnh trầm kha, tái đi tái lại
nhiều lần, thường là bệnh về
bộ máy tiêu hóa tương đối nặng.
Tướng, Binh, Kiếp hay Không: chỉ
họa cướp của. Đóng ở Điền,
Tài, đương số sẽ bị cướp đến
khảo của, phá nhà, tống tiền,
có thể bị thanh toán. Nếu có
thêm Tả Hữu thì thường có nội
gián, tòng phạm lâu la đông đảo.
Bộ sao này cũng nói lên trường
hợp bị cưỡng bách đóng thuế
bằng cách hành hung, đe dọa sinh
mạng hoặc bắt cóc đòi tiền
chuộc. Trong trường hợp có bắt
cóc tống tiền thì thường có
Thiên Hình đi kèm.
b. Những tiểu họa tài sản:
Phục Binh: điển hình cho sự mất
trộm. Cung Điền, Tài bị sao Binh
trấn đóng hay hội chiếu thường
bị người khác lấy của bằng
cách trộm, lừa đảo, ăn chặn,
quỵt hụi, trốn nợ, giựt đồ,
móc túi ... Có khi tai họa không
do thủ phạm mà do sơ xuất của
chính mình, dù sao cũng là sự
mất mát ngoài ý muốn của sở
hữu chủ.
Binh, Tả, Hữu: có tòng phạm
giúp đõ, chỉ dẫn, dụ dỗ, đánh
lừa để lấy đồ bằng mưu chước
xảo quyệt. Có khi Tả Hữu còn
chỉ tôi tớ trong nhà, làm nội
ứng chỉ điểm cho gian phi, hoặc
chính người giúp việc trộm cắp
của chủ nhân. Bộ sao này cho
thấy việc đánh cắp có tổ chức,
có kế hoạch.
Thiên Không: đứng riêng rẽ, sao
này chỉ tên lưu manh, gian hùng,
xảo quyệt, có nghĩa tương tự
như Phục Binh. Nếu cả hai cùng
hội tụ thì đây là cách gian phi
họp đang, tác họa nhiều hơn.
Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ,
Hóa Kỵ: chỉ hao tài sản do sự
lường gạt, phản bội, hoặc do
kiện tụng mà hao hụt của cải,
kiện tụng về tài sản cụ thể
như bị xử ép, chia của không
sòng phẳng, thanh toán không phân
minh. ứng vào điền sản, những
sao này cho thấy phải có tranh
chấp về đất đai, ruộng vườn,
phải tốn tiền vì điền thổ mới
có của, phải kiện thưa mới
đuổi được người cư ngụ bất hợp
pháp mới cất được nhà. Cũng
có thể nhà, đất của mình không
có lai lịch phân minh, bị tố
tụng, thưa kiện và có khi thất
kiện phải mất đất, trả nhà.
Thiên Hình: ở Điền, Tài, sao
này chỉ họa của người bị bắt
giam vì tài sản, bị họa lụy
vì tiền bạc hoặc nếu là điền
sản thì có thể bị tịch thu,
tịch biên. Đây là trường hợp
những người bị bắt để đổi
tiền chuộc mạng, của bọn khảo
của, tống tiền, thu thuế bằng
bạo hành, đe dọa. Nếu đương số
làm nghề tài chính, thì Hình
sẽ ứng vào các vụ biển thủ,
quản lý sơ suất để mất tiền
phải bị ra tòa, đền tiền. Nếu
ở cung Điền, nhà đất dễ bị
tịch thu, sai áp, niêm phong do
một án tiết cá nhân, có liên
quan đến của cải bất hợp pháp
hoặc đến uy thế chính trị suy
sụp. Nếu ứng vào cơ thể có
nghĩa thương tích thì ứng vào
điền trạch cũng có nghĩa bế
tỏa như vậy. Bị Thiên Hình, cơ
xưởng, làm ăn có thể bị sai áp,
quốc hữu hóa, trưng dụng, trưng
thu. Nếu có thêm sát tinh khác,
đây có thể là đại họa.
Điếu Khách, Văn Xương, Văn Khúc:
chỉ họa hao tài vì đánh bạc,
thông thường có đi đôi với Song
Hao, hoặc Khốc Hư, Tang Hổ, Xương
Khúc thì thỉnh thoảng có đỏ
đen, còn Điếu Khách thì máu cờ
bạc quá nặng đến nỗi trở
thành tập quán khó chừa, lấy
đổ bát làm sinh kế và chắc
chắn cũng vì đổ bát mà tán
tài, tán điền.
Hỏa, Linh với Song Hao: họa tài
sản bắt nguồn từ bệnh nghiện
thường là nghiện á phiện, ma
túy, rượu, rất nguy kịch cho
của cải và sức khỏe. Không cần
gì phải có cả Hỏa và Linh với
Song Hao, chỉ cần Hỏa hay Linh
cũng đủ.
Đào, Hồng với Song Hao: họa tài
sản do gái/trai tạo ra. Đây là
hoàn cảnh của các chàng hào
hoa bị dại gái bị lừa gạt,
phải chi khá nhiều để chu cấp
cho gái hoặc phụ nữ mê trai
cũng chu cấp cho các chàng thất
nghiệp. Đào Hồng ở Tài, Điền
thì phải tốn tiền ít nhiều cho
tình nhân, nếu có Song Hao thì
chi phí lớn theo tỷ lệ túi
tiền của nạn nhân.
5. Họa cho gia đạo:
a. Tình trạng không chồng, không
vợ:
– cung Phúc có những chính tinh
hãm địa, đi chung với những sao
tình duyên bị sát tinh xâm phạm.
– cung Phu Thê cũng gặp phải
nghịch cảnh này, nhất là bị
sát tinh tọa thủ đồng cung với
các sao tình duyên hoặc là được
các sao tình duyên hội chiếu
vào sát tinh tọa thủ ở Phu Thê.
Càng có nhiều sát tinh, nhất
là sát tinh hạng nặng tọa thủ
hay hợp chiếu thì triển vọng
lập gia đình càng giảm. Ngoài
ra, hai sao Tuần Triệt ở Phu Thê
nhất là đồng cung cũng góp
phần xác định ý nghĩa này.
Nếu cả Phúc lẫn Phu Thê đồng
thời gặp nghịch cảnh thì dễ
đoán việc vô gia đình (đặc biệt
là với lá số nữ giới).
Nếu Mệnh, Thân có hao bại tinh
(Tang, Hổ, Cô, Quả, Đẩu Quân,
Khốc, Hư, Đại Tiểu Hao) thì
phải xem đó là một yếu tố bổ
túc để quyết đoán thêm trường
hợp độc thân bắt buộc.
Cung Tử tức có nhiều sao hiếm
muộn, tuyệt tự, lập tự.
Vòng đại hạn đi theo chiều
thuận tức là ngày càng xa cung
Phu Thê. Đây là một yếu tố bổ
túc phải lưu ý. Nếu đi theo
chiều nghịch thì vào khoảng 30
tuổi trở đi, vấn đề gia đạo dễ
xảy ra hơn vào khoảng thập niên
32 trở đi vì tại đó cung Phu Thê
trấn ngự, ngụ ý có sự chi
phối khá mạnh, sự thúc đẩy khá
lớn, sự quan tâm đặc biệt của
con người về vấn đề gia đạo.
Sự lạc vị của những sao tình
duyên: nếu các sao đó đóng ở
Tật, Tử, Bào, Phụ, Điền thì
cái duyên bị đặt sái chỗ, không
lợi cho sự sum họp.
b. Tình trạng giang hồ, lãng tử:
– sự hiện diện của rất nhiều
sao tình dục ở cung Mệnh, cung
Thân: Thiên Riêu, Thai, Mộc Dục,
Hoa Cái, Đào Hoa, Hồng Loan, Liêm
Trinh, Tham Lang ...
– sự hiện diện của những sao
này ở cung Nô chỉ con người đó
rất sa đọa, trụy lạc, ăn chơi,
đàng điếm, không kể dư luận,
đạo đức.
– sao khắc chế tình dục không
có hoặc không đủ mạnh ở các
cung Mệnh, Thân.
– đối với phái nữ, sao tình
dục có đi chung với sao tài, ngụ
ý rằng tiền bạc kiếm được
bằng nhan sắc, bằng hương phấn.
– cung Phu Thê bị Tuần, Triệt
đồng cung hoặc 1 trong 2 án ngữ,
tiên niệm sự trục trặc, sự bất
hạnh về gia đạo hoặc sao cô độc
như Cô, Quả, Đẩu, Quân.
– cung Phu Thê có nhiều sao chỉ
sự thay đổi cụ thể như Thiên
Đồng, Thiên Mã, Đại Hao, Tiểu
Hao, ngụ ý đương số thường thay
đào đổi kép.
– riêng số phụ nữ còn có những
bộ sao nói lên họa trinh tiết
– cung Mệnh, cung Thân của hai
phái có nhiều sao nói lên tính
nết lãng tử, giang hồ, ham vui,
chóng chán, thích thay đổi,
phiêu lưu tình cảm.
– cung Phúc có nhiều sao bất
hạnh về gia đạo.
c. Tình trạng hôn nhân trắc trở:
Phục Binh: nếu đóng hay chiếu
vào cung Phu Thê, chỉ sự cản trở.
ở vị trí tọa thủ, sự cản trở
mạnh mẽ hơn, gây trở ngại lớn
hơn ở vị thế hội chiếu. Sao
này tượng trưng cho sự đổi ý
của người con trai hay con gái,
sau khi yêu nhau rồi mới khám phá
những chỗ kẹt, chỗ ngang trái
khiến không thể lấy nhau. Nó
cũng tượng trưng cho sự chống
đối mạnh mẽ của cả hai bên nhà
trai nhà gái hoặc của một bên
và sự chống đối này do cha mẹ
chủ xướng, tức là những người
có quyền quyết định tối hậu
cuộc tác thành. ở vị thế hội
chiếu, có thể ban đầu chống
đối rồi sau cũng thuận cho.
Hóa Kỵ: ý nghĩa tương tự như
Phục Binh nhưng nhẹ hơn. Hóa Kỵ
ở Phu Thê thường là sự bất hòa
giữa hai họ để rồi trai gái
phải xa nhau, bắt nguồn từ
những câu nói vụng về của nam
hay nữ hoặc của họ bên này chê
bai họ bên kia hoặc cũng có thể
bắt nguồn từ một đệ tam nhân
ngoại cuộc vụng lời, thêm bớt.
Cự Môn: dù đắc hay hãm địa, Cự
Môn ở Phu Thê bao giờ cũng khó
khăn dài dài, trước khi lấy nhau
và sau khi thành hôn. Cự Môn chủ
đa nghi: bên nọ nghi ngờ bên kia,
thôn tính con dâu hoặc sắp xếp
cho con mình vào tròng để lợi
dụng. ở vị trí đắc địa, sự
việc có thể tiền hung hậu kiết
nhưng ở thế hãm địa thì có thể
tiền hậu đều hung.
Thiên Không: chỉ sự cản trở, chủ
yếu là do sự bố trí có thủ
đoạn của một bên cho bên kia mắc
kẹt. Trò chơi của Thiên Không
rất nguy hiểm, nếu có thêm sao
xấu đi kèm, hôn nhân rất nhạy rã
đám.
Thiên Hình: ở Phu Thê, Hình báo
hiệu sự hình thương gia đạo, có
thể là sự trắc trở hôn nhân
buổi đầu. Mặt khác, vì Hình
chỉ sự xét nét quá tinh vi cho
nên ngụ ý rằng có một bên tính
kỹ quá, đòi hỏi điều kiện
chặt chẽ, khó khăn khiến bên nọ
không với tới làm cho hôn nhân
bị hỏng hoặc trì trệ kéo dài.
Cuộc thương thuyết có Thiên Hình
hẳn phải hết sức gay go và đầy
cạm bẫy.
Khốc, Hư, Tang, Hổ: hai trẻ phải
nhiều lần điêu đứng, rơi lệ, đau
khổ, phải đấu tranh cho sự hòa
hợp bằng nước mắt. Nếu có cả
4 sao thì 4 dòng lệ đều chan
hòa, duy có riêng một sao cũng
mệt sức lắm rồi. Trong một ý
nghĩa khác, 4 sao này còn có
nghĩa là cưới xin trong tang khó.
d. Tình trạng gia đạo bất hòa:
– cung Phu Thê phải có hao bại
tinh, ám tinh, hình tinh, cụ thể
là Cự Môn, Phục Binh, Hóa Kỵ,
Thiên Hình, Thiên Khốc, Thiên Hư,
Tang Môn, Bạch Hổ.
– cung Phu Thê phải có sao cô độc
như Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân;
sao khắc khẩu như Thái Tuế,
Trực Phù.
– cung Phu Thê phải có sao ghen
tuông, cãi vã, khó tính, câu
chấp, ngỗ ngược, ngoan cố, lấn
át, bướng bỉnh - nguyên nhân của
mọi bất hòa.
– hai lá số của nam nữ có Bản
Mệnh khắc nhau.
– có thể chính tinh ở cung Mệnh
số người này mà nghịch cách
với chính tinh ở Phu/Thê của số
người kia thì cũng xung khắc.
e. Tình trạng ngoại tình:
+ Điều kiện về tính chất:
– lá số của nam hay nữ phải
chất chứa một nết tình mạnh
thiên về nhục dục, hoặc sự si
tình, lụy tình, đồng thời với
tính nết ham vui chơi, ưa hoang
phí, thích thay cũ đổi mới,
táo bạo, trí trá ...
– phải có nhiều cơ hội tốt cho
việc phát tác tình dục biểu lộ
trong cung Di, cung Nô, qua những
sao ái tình tọa thủ tại 2 cung
này. Những lá số có Thân cư Di
hội nhiều sao tình dục là ví
dụ điển hình.
– ngoài điều kiện tích cực,
còn có điều kiện tiêu cực là
thiếu sự khắc chế tình dục,
hoặc sự khắc chế không đủ mạnh
so với các sao tình dục hiện
diện.
+ Điều kiện về sao:
– nhất định phải có nhiều sao
tình dục hội trụ hoặc tập
trung vào những cung cường, sao
đồng cung hoặc sao tình dục
hạng nặng (Thai, Riêu, Tham, Đào)
...
– phải có sao đa phu, đa thê
– phải có sao bất hòa gia đạo,
chửa hoang
– phải có sao bất hạnh (ly tán,
đau khổ) gia đạo
+ Điều kiện về cung:
– sao tình dục phải xuất hiện
ở các cung Mệnh, Thân, chiếu
Mệnh, chiếu Thân hoặc ở cung
Phúc.
– sao tình dục phải có ở cung
Phu Thê
– sao tình dục phải có ở cung
Nô, Di
– nếu xuất hiện ở cung Hạn (ngoài
các cung nêu trên) thì vấn đề
ngoại tình xảy ra nhất thời
trong hạn đó
– cung Tử có những sao hai dòng
con: cùng mẹ khác cha hay cùng
cha khác mẹ
+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:
– lá số phải được cứu xét
trong xã hội có sa đọa hay không
– nếp sống đương số có sa đọa
hay không;
– cần lưu ý thêm là việc sợ vợ,
sợ chồng lắm khi không phải là
yếu tố kìm hãm ngoại tình.
+ Những dè dặt cần thiết:
– sao tình dục hay sao ái tình
có khi chỉ có nghĩa là có
duyên (Hồng Loan) hay đẹp đẽ (Đào
Hoa, Văn Xương, Văn Khúc) hay dâm
đãng mà không ngoại tình, hoặc
cưới xin dễ dàng;
– lưu ý tránh ngộ nhận số
ngoại tình với số giang hồ, lẽ
mọn, lãng tử;
– gặp trường hợp Thân cư Thê/Phu
có những sao ngoại tình cũng
phải dè dặt;
– gặp số có hai đời vợ, hai
đời chồng phải dè dặt thêm: có
khi là hai vợ, hai chồng đồng
thời, có khi là hai đời vợ/hai
đời chồng liên tiếp, không trùng
hợp nhau.
g. Tình trạng chia ly: sự chia ly
ở đây bao hàm hai trường hợp ly
thân hay ly hôn chứ không nói đến
sự xa cách để làm ăn hay vợ
một nơi chống một ngả vì có
thuyên chuyển, không nói đến
việc một trong hai người chết
nửa chừng xuân.
Những điều kiện trực tiếp của
tình trạng chia ly gồm có:
– cung Phu Thê bị Tuần, Triệt
đồng cung;
– cung Phu Thê bị sát tinh xâm
phạm;
– cung Phu Thê bị ám tinh, hao
bại tinh, hình tinh đi với sao
thay đổi, sao đau buồn, nước mắt,
cô độc;
– cung Phu Thê có sao chỉ hai đời
chồng/vợ;
– cung Tử có những sao chỉ con
dị bào;
– lá số của hai vợ chồng có
Bản Mệnh khắc nhau;
– cung Phúc có nhiều sao bất
hạnh gia đạo (cao số, dang dở);
– cung Mệnh Thân có nhiều sao xui
xẻo, đau buồn, nhất là với nữ
số;
– có những chỉ dấu ngoại tình
ở vài cung như Nô, Di;
– thiếu sao giải mạnh và nhiều
Đi vào chi tiết, cần lưu ý các
sao sau:
- Những bộ sao của Tử Vi:
Chỉ có Tử Sát và Tử Phá đồng
cung nói lên sự chia ly khả hữu:
Tử Sát: nếu hôn nhân bị trắc
trở buổi đầu hoặc nếu muộn
lập gia đình thì có thể tránh
được chia ly. Tuổi muộn thông
thường là quá ba mươi. Thất Sát
vừa chỉ sự không may, vừa chỉ
sự chậm chễ.
Tử Phá: Phá Quân chỉ sự hao
tán phu thê cho nên dù đi với Tử
Vi cũng không giảm bất lợi. Vợ
chồng phải bị chia ly, hình
khắc sau khi hiềm khích, giận
hờn, gây gổ nhau.
- Những bộ sao của Liêm Trinh:
Liêm ở Dần, Thân: vợ hay chồng
phải chắp nối nhiều lần, có
họp rồi lại tan, chưa kể việc
lấy chồng/vợ nghèo.
Liêm Tướng: hai người không từ
biệt cũng chia ly, sau khi gây gổ
nhau thường xuyên.
Liêm Tham: cũng chia ly, thông
thường có một người bị hình tù.
Liêm Sát: vừa chậm gia đình vừa
chia ly.
- Những bộ sao của Thiên Đồng:
Đồng ở Thìn, Tuất: thông thường
là bất hòa, nếu không hoặc tử
biệt hoặc chia ly.
Đồng, Âm ở Ngọ: nếu muộn gia
đạo có thể tránh chia ly.
Thường người vợ có lỗi vì Âm
hãm ở Ngọ.
Đồng Cự: Vợ chồng hay gây gổ
nhau, nghi ngờ nhau, thường bỏ
nhau vì mạ lỵ thậm tệ. Sao Cự
chỉ ngôn ngữ bất cẩn, cãi vã,
thị phi.
- Những bộ sao của Vũ Khúc:
Vũ Sát: sự khắc kỵ gia đạo
hết sức nặng nề, mang lại tai
họa cho vợ chồng lúc sống chung,
một sống một chết, nếu không
cũng chia ly.
Vũ Phá: chia ly xảy ra nếu sớm
lập gia đình. Vì có Phá Quân,
nên có thể hai lần tác hợp.
- Những bộ sao của Thái Dương,
Thái Âm:
Dương hãm địa hay Âm hãm địa:
nếu muộn gia đình thì tránh
được chia ly, duy vợ chồng hay
bất hòa và trước khi lấy nhau
thường gặp trắc trở.
Cự Dương ở Thân: ý nghĩa như
trên.
Âm Dương đồng cung: nếu muộn gia
đình thì có thể tránh được
cảnh chia ly.
- Những bộ sao của Thiên Cơ:
Cơ Cự: chia ly nếu sớm gia đạo.
Sự hiện diện của Cự Môn thường
bất lợi cho gia đạo, thường báo
hiệu việc bất hòa, gây gổ, hai
vợ, hai chồng.
Cơ Nguyệt ở Dần: trắc trở trong
việc cưới xin và nếu sớm lập
gia đình dễ chia ly.
- Những bộ sao của Tham Lang:
Tham ở Thìn, Tuất: sớm lập gia
đình thì dễ chia ly. Vợ thì hay
ghen tuông, chồng thì chơi bời.
Tham ở Dần, Thân: vợ chồng dâm
đãng, dễ bạc tình, dễ kết hợp
nhau cũng dễ chia ly.
- Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ:
phải trắc trở trước khi lập gia
đình; bất hòa lúc sống chung;
phải chia ly, 2 hoặc 3 lần lập
gia đình.
- Những bộ sao của Thiên Tướng:
Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi:
sớm lập gia đình thì sẽ bất
hòa và dễ chia ly. Đời sống vợ
chồng rất cần sự nhịn nhục,
vì Thiên Tướng chỉ nóng nảy và
lấn át.
Tướng ở Mão, Dậu: ý nghĩa
tương tự. Lúc cưới nhau hay gặp
cản trở.
- Những bộ sao của Thất Sát:
Sát ở Thìn Tuất: phải vài lần
lập gia đình, khó tránh được
chia ly.
Sát ở Tý Ngọ: nếu sớm gia đạo,
dễ chia ly. Vợ chồng là con
trưởng, cả hai rất ghen tuông.
- Những bộ sao của Phá Quân:
Phá ở Thìn, Tuất: nếu sớm
thành gia đạo thì chẳng những
phải chia ly mà còn phải nhiều
lần lập gia đình.
Phá ở Dần, Thân: ý nghĩa càng
nặng hơn; vợ chồng chắc chắn
phải chia ly vì nguyên nhân ngoại
tình.
Phá Quân đắc địa ở Tý, Ngọ: vợ
chồng tối thiểu cũng có lúc xa
nhau rất lâu.
- Thiên Mã, Tuần, Triệt ở Phu
Thê: Tuần Triệt ở Phu Thê chỉ sự
bất hạnh lớn lao và liên tiếp,
có tính cách lâu dài của đời
sống vợ chồng, thậm chí có thể
xem như không có vợ/chồng. Chẳng
những Tuần, Triệt ở Phu Thê cho
thấy sự dang dở mối tình đầu
mà còn dang dở vài mối tình kế
tiếp. Đời sống gia đạo không
những triền miên bất hòa mà có
thể đi tới gián đoạn vĩnh viễn.
Trong bối cảnh đó, sự có mặt
của Thiên Mã càng xác nhận thêm
sự ly cách giữa hai vợ chồng.
Nếu Thiên Mã được thay bằng
những sao Thiên Đồng, Đại Tiểu
Hao cũng chỉ sự thay đổi, có
lẽ ý nghĩa cũng tương tự.
- Địa Không, Địa Kiếp ở Phu Thê:
vợ chồng xa nhau, cụ thể là bỏ
nhau, chưa kể có thể một người
phải chết. Nếu Không Kiếp đắc
địa thì chỉ có thể đoán là
tạm thời xa nhau, dưới hình
thức ly thân hoặc là người sống
một nơi kẻ ở một ngả, lâu lâu
mới sum họp một lần hoặc là
phải gặp ngang trái nặng trong
tình duyên.
- Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ:
Quan Phủ, Quan Phù chỉ sự phản
bội, sự thiếu chung thủy đồng
thời cũng có nghĩa kiện tụng.
Thái Tuế chỉ cả kiện cáo lẫn
cãi vã, đồng thời cũng chỉ sự
mất mát tình thương. Như vậy, bộ
sao trên có thể báo hiệu cho sự
xung đột giữa hai vợ chồng đưa
đến tình trạng lôi nhau ra tòa
phân xử, xin ly thân hay ly hôn.
Nếu không có chuyện kiện nhau
thì vẫn có chuyện âm thầm bỏ
nhau, mỗi người một giang sơn, tự
do của ai nấy giữ, không còn sự
ràng buộc nào giữa hai người.
- Thiên Hình ở Phu Thê: vấn đề
tòa án hầu như không tránh được
nhất là khi Hình đi chung với
một trong ba sao trên. Thiên Hình
giúp xác nhận thêm sự ly hôn, ly
thân một cách chính thức. Ngoài
ra, Hình còn ngụ ý rằng hai vợ
chồng có cãi vã đến nỗi đánh
đập nhau hoặc người này hành
hung người kia. Ngoài ra, Hình
có nghĩa là tù ngục nên có thể
có một người ở tù sau cơn ẩu
đả. Nếu đi chung với Thái Tuế
thì có "mạ lỵ thậm từ" và có
đánh lộn gây thương tích nhưng
chỉ Thiên Hình cũng đã quá đủ.
- Cô, Quả, Đẩu Quân ở Phu Thê:
riêng 1 trong 3 sao này thật sự
không đủ để minh chứng tình
trạng ly cách. Nó cần phải đi
chung với những sao kể trên.
Riêng việc đơn thủ mà thôi thì
Cô hay Quả hay Đẩu Quân chỉ sự
cô đơn, cô độc dưới nhiều hình
thái: hoặc có chồng/vợ vẫn ở
chung với nhau mà bị cô đơn vì
chồng/vợ không hiểu mình, không
bệnh vực mình trước gia đình
bên chồng hoặc có vợ/chồng ở
chung nhau nhưng không có sự thắm
thiết, hầu như mỗi người có ưu
tư và nếp sống riêng rẽ, ít khi
đồng thuận, không có chung thủy
hoặc đối với nữ số, có thể
vẫn là vợ chính thức nhưng vẫn
bị bỏ rơi vì chồng có vợ lẽ,
cả hai cũng vẫn không chia ly
hoặc đối với nam số, có thể
rơi vào tình trạng vợ lăng loàn,
nhưng đành cam chịu vì sợ uy
tín, xấu hổ hay sợ vợ ...
h. Trường hợp tử biệt:
– cung Phu Thê có Tuần, Triệt
riêng rẽ hoặc đồng cung trấn thủ,
hội với sát tinh, có thể hội
thêm với hình tinh, hao bại tinh,
ám tinh;
– cung Mệnh đương số có Cô, Quả,
Đẩu Quân, Tang, Hổ;
– số của hai vợ chồng đối khắc
Bản Mệnh và một trong hai lá số
rơi vào đặc điểm đầu tiên;
– những bộ sao chỉ họa cho tính
mệnh xuất hiện trong lá số của
một người;
– có những bộ sao chỉ tình
trạng chia ly kể trên;
– có những sao chỉ tình trạng
hai đời vợ/đời chồng trong lá
số. Việc có con 2 dòng chỉ yếu
tố phụ đới, chỉ có giá trị
quyết đoán khi gặp trường hợp
đầu tiên.
i. Tình trạng án mạng trong gia
đạo:
– một trong hai lá số có những
sao sát, nói lên sát nghiệp của
người đó, trong khi lá số người
kia có những bộ sao chết vì án
mạng hoặc yểu. Trong cả hai
trường hợp, đều thấy xuất hiện
sát tinh hạng nặng như Địa Không,
Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh,
Thiên Hình, Kiếp Sát, Kình Dương,
Đà La. Đôi khi có những sao như
Phục Binh, Thiên Không, Tang Môn,
Bạch Hổ. Sát tinh hầu hết bị
hãm địa, nói lên nghiệp chướng.
– cung Phu Thê của hai lá số đều
gặp nhiều trường hợp bất lợi
kể ở các đoạn nói về chia ly,
tử biệt, họa cá nhân, họa ngục
hình;
– xét về nguyên nhân, án tình
thường bắt nguồn từ sự phản
bội của vợ/chồng. Vì vậy,
trong số phải có những bộ sao
phản bội, lăng loàn, ngoại tình,
con dị bào ...
– xét về hậu quả, án tình,
nếu thủ phạm còn sống sót,
thường hay đưa đến hình ngục,
kiện cáo ...
– xét về sự trùng phùng, cần
quan tâm đến sự hội tụ của sát
tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám
tinh đồng cung hoặc xung chiếu
với các sao tình duyên trong một
đại hạn hay tiểu hạn nào đó;
– sự đối khắc giữa hai Bản
Mệnh trong trường hợp này nhất
định phải có;
– cần lưu ý đến những sao nói
lên cá tính của thủ phạm và
nạn nhân. Thủ phạm phải là
người tự ái, ghen tuông quá mức,
nóng nảy, ích kỷ tột độ, có
ác tâm, có sát nghiệp. Nạn nhân
là người dâm đãng, trắng trợn,
ngang tàng, mạo hiểm, thủ đoạn,
dối trá, bê tha, đam mê ...
6. Họa cho con cái:
(thiếu)
Sự hiện diện của Song Hao cho
thấy phải tốn kém nhiều lúc
dưỡng thai và lúc dưỡng nhi
cũng như lúc sinh nở.
Thai, Lưu Hà: chỉ sản tai, tức
là tai họa lúc sinh sản, thể
hiện dưới hình thái mẹ chết
lúc sinh, thường là do băng
huyết hoặc lúc sinh bị máu ra
nhiều vì Lưu Hà chỉ máu loãng
xuất huyết.
Thai, Tuần, Triệt: không kể
trường hợp phá thai, bộ sao này
có nghĩa là bào thai yểu tử,
nhất là khi gặp cả Tuần lẫn
Triệt.
Thai, Quan Đới: Quan Đới chỉ cái
chết bất đắc, không tự nhiên. Đi
với Thai thì dễ hư thai hoặc
hài nhi sơ sinh chết bất thần.
Gặp thêm sao xấu, nhất là Không
Kiếp, có thể báo hiệu cái
chết của mẹ lẫn con.
d. Tình trạng con hư đốn:
Nếu con hư vì sắc dục, trinh
tiết thì tại cung Tử sẽ có
những sao về họa sắc dục, trinh
tiết, giang hồ. Nếu con hư vì cờ
bạc, hút sách, trộm cướp thì
cung Tử có những sao hao tán
tài sản vì cờ bạc, hút sách,
trộm cướp ... Nếu con bị hình
tù thì những cách hình tụng
nói trong họa tụng ngục xuất
hiện tại cung Tử. Trường hợp
chết dữ thì đã có sao họa cho
sinh mệnh cơ thể kể trên. Ngoài
ra,
Tham ở Thìn, Tuất hay Thất Sát:
cung Tử có Tham Lang hay Thất
Sát ở Thìn, Tuất thì có con
bất mục, bất hiếu, khó dạy,
ngỗ ngược.
Lương, Đồng ở Tỵ, Hợi: con chơi
bời, lãng tử, nam thì kết đảng
gian phi, nữ thì dâm đãng hoang
phí. Có thêm Mã thì thường bỏ
nhà đi bụi đời.
Kình, Đà, Không, Kiếp hãm địa:
chỉ con cái du đãng, bất lương,
mất dạy.
Binh, Hình, Kiếp, Kỵ: đồng
nghĩa như trên nhưng nặng nề,
xấu xa hơn. Đó là những gian phi
hiểu theo nhiều nghĩa côn đồ,
trộm cướp, hiếp dâm, phiến loạn,
vào tù ra khám nhiều lần. Thông
thường, đây là cướp có tổ chức,
có nhiều bè đảng, lâu la giúp
đỡ.
Đẩu Quân và nhiều sao xấu: con
hoang phí, xài phá hết của cha
mẹ.
Đào hay Riêu: con chơi bời, đĩ
điếm, lẳng lơ, hoa nguyệt. Nếu
có sao Thai thì con gái có chửa
hoang, bỏ nhà theo trai.
e. Tình trạng con bất hòa:
Cự Môn: dù đắc hay hãm địa,
chỉ sự nghi kỵ, đố kỵ, ganh
ghét, nói xấu, chỉ trích giữa
con cái hoặc giữa con dòng lớn
và con dòng nhỏ.
Phục Binh hay Hóa Kỵ: ngoài ý
nghĩa của Cự Môn, Binh Kỵ còn
chỉ sự toa rập sang đoạt, ám
hại lẫn nhau, phá hoại nhau.
Thiên Hình, Quan Phù, Quan Phủ:
con cái có thể kiện tụng nhau,
hiềm khích nhau, coi nhau như
người dưng nước lã.
7. Họa cho cha mẹ:
a. Cha mẹ chết sớm: biểu hiện
qua những đặc điểm chính sau:
– cung Phúc xấu hoặc tầm thường;
– cung Phụ bị Tuần, Triệt đồng
cung trấn thủ;
– cung Phụ có Âm, Dương sáng bị
Tuần, Triệt;
– cung Phụ, cung Mệnh có hao bại
tinh, đặc biệt là Tang Môn, Bạch
Hổ;
– cung có Thái Dương (cha), cung
có Thái Âm (mẹ) có Tang Hổ,
Đại Tiểu Hao gặp sát tinh;
– số của cha, mẹ có cách yểu.
Vị trí của Âm Dương cùng với
giờ sinh có thể giúp đoán được
cha hay mẹ mất trước, cụ thể
như sau:
– Âm Dương đều sáng sủa: cha mẹ
thọ (thông thường)
– Dương sáng, Âm mờ: mẹ mất
trước cha
– Dương mờ, Âm sáng: cha mất
trước mẹ
– Âm Dương cùng sáng: sinh ban
ngày: mẹ mất trước; sinh ban đêm:
cha mất trước
– Âm Dương cùng mờ: sinh ban ngày:
cha mất trước; sinh ban đêm: mẹ
mất trước
– Âm Dương đồng cung ở Sửu Mùi:
không có Tuần, Triệt đồng cung:
sinh ngày - mẹ mất trước, sinh
đêm - cha mất trước; gặp Tuần
hay Triệt đồng cung: sinh ngày -
cha mất trước, sinh đêm - mẹ mất
trước.
Việc mất trước không bắt buộc
là mất sớm. Việc tính sớm, trễ
phải dựa vào cung Phụ Mẫu, qua
những bộ sao dưới đây:
– Tử Vi, Phá Quân đồng cung
– Tử Vi, Tham Lang đồng cung
– Liêm Trinh ở Dần, Thân
– Liêm Trinh, Thất Sát đồng cung
– Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung
– Thiên Đồng ở Thìn, Tuất
– Thiên Đồng, Cự Môn đồng cung
– Vũ Khúc
– Vũ Khúc, Phá Quân đồng cung
– Thái Dương ở Thân, Dậu, Tuất,
Hợi, Tý
– Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần
– Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung
– Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Mão,
Dậu
– Thái Âm ở Mão, Thìn, Tỵ,
Ngọ, Dần
– Tham Lang
– Cự Môn ở Tỵ, Thìn, Tuất
– Thiên Lương ở Tỵ, Hợi
– Thất Sát ở Thìn, Tuất
– Phá Quân
– Phá Quân ở Thìn, Tuất
– Hỏa Tinh, Linh Tinh, Phá Quân
đồng cung
– Kình Dương, Đà La, Thất Sát
đồng cung
– Thiên Mã, Đà La và sát tinh
– Cô Thần, Quả Tú và sát tinh
– Tuần, Triệt tại cung Phụ Mẫu
Ngoài ra, năm sinh và giờ sinh
của mình đôi khi có ảnh hưởng
đến sự vắn số của cha mẹ trong
3 trường hợp sau:
– sinh năm Dần, Ngọ, Tỵ, Dậu giờ
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì rất
độc: mồ côi sớm;
– sinh năm Dần, Hợi, Tỵ, giờ
Ngọ, Thân, Dậu, Hợi: khắc cha từ
lúc còn nhỏ tuổi nhưng nếu qua
16 tuổi mà chưa mồ côi cha thì
coi như không mồ côi sớm nữa;
– sinh năm Thìn, Tỵ, Sửu, Mùi
giờ Tý, Ngọ, Mão, Tỵ, Hợi,
Thân, Dậu: khắc mẹ trước.
Ba trường hợp trên phải được
tính phối hợp với các sao ở
cung Phụ Mẫu kể trên để có thêm
yếu tố quyết đoán.
b. Cha mẹ chia ly: không kể mỗi
người đi làm ăn một phương rồi
thỉnh thoảng gặp lại, tình
trạng chia ly ở đây được hiểu
là xa cách hẳn nhau, không tái
họp vì những nguyên nhân như ly
thân, ly hôn, tử biệt. Có thể
tham chiếu đoạn nói về vợ
chồng chia ly để khảo sát tình
trạng chia ly của cha mẹ. Mặt
khác, đôi khi tình trạng chia ly
gần giống tình trạng chết sớm.
Ngoài ra, những họa xảy ra cho
cá nhân đều có thể ứng cho Phụ
Mẫu nếu những bộ sao đó đóng
ở cung Phụ.
c. Cha mẹ để nợ cho con cái: thể
hiện qua các sao tài lộc bị
sát tinh đi kèm, đôi khi bị hao
bại tinh đi kèm. Mặt khác, cung
Tài của đương số cũng có hao
bại tinh, nhất là Tuần, Triệt,
ngụ ý rằng chậm có tiền.
d. Cha mẹ bệnh tật nặng: xem
trong cách bệnh, tật.
8. Họa cho anh em, chị em: ảnh
hưởng đến sự yểu chiết, sự hư
đốn của anh chi em, sự hình
khắc bất hòa, tranh chấp giữa
anh chị em, ruột hay nuôi hay ghẻ.
Các bộ sao nói lên tình trạng
trên đều tương tự với các bộ
sao yểu, hư, hình khắc ... giữa
vợ chồng, con cái hay cha mẹ.
|
|