Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tử vi & Phong thủy

Mục lục

Tử vi Tây Phương:

 

Tử vi Á Đông:

Luận - Học - Thuật số - Tử vi:

Bảng tra cần thiết:

Tử bình:

 

Tử vi & Phong thủy - Phụ trách TN. 2/2010.

"Tử vi kim chỉ nam HÀNH ĐỘNG, giúp con người. Cần gặp Thầy giỏi có thực học."
Tử vi gia Thiên Phúc

===

Trích CHÚA TỂ LÊN NGÔI (Theo Nguyễn Quý Đại)

Tuổi Dần tốt xấu

Người tuổi Dần thường có nét uy quyền tính can đảm, thích mạo hiểm. Họ có tính tập trung cao, luôn đem hết cả sức lực, tinh thần để làm việc. Đời sống tình cảm của họ rất phong phú, nên khi còn trẻ họ có lối sống khá lập dị, ham bay nhảy, du lịch đó đây. Người nữ tuổi Dần rất có duyên, hoạt bát, linh lợi, thanh lịch, họ không bao giờ hài lòng với bất cứ việc gì. Người tuổi Dần hợp với người tuổi Hợi, vì người tuổi Hợi điềm đạm, từ tốn, họ sẽ bổ túc, kiềm chế sự nóng nảy của người tuổi Dần. Dần ý hợp tâm đầu với người tuổi Tỵ vì cả hai đều rất đa nghi. Sự khác biệt là ở chỗ người tuổi Dần liều lĩnh trong khi người tuổi Tỵ thì thận trọng. Người tuổi Dần sẽ nếm hậu quả nếu đối đầu với người tuổi Thân vì người tuổi Thân nhanh nhẹn, tháo vát, lắm mưu nhiều kế. Người tuổi Dần mệnh Mộc có tài ngoại giao trọng danh dự, có thể tạo dựng nên sự nghiệp lớn. 

Tài liệu tham khảo

Tiger im Natur Lexikon và Wikipedia
 

===

 

TÍNH CHẤT  12 CON GIÁP
ĐÔNG PHƯƠNG

(THIÊN VIỆT)

 

 Khi nói về tín ngưỡng dân gian trong đời sống tâm linh mọi người, nếu không nhắc đến 12 con giáp quả thật thiếu xót, vì mỗi người trong chúng ta đêu cầm tinh một con vật “thiêng” do trời đất đã định từ khi mới chào đời, và cũng chính một trong 12 con giáp ấy cai quản trái đất và loài người trong một năm, một tháng, một ngày và một giờ âm lịch với những truyền thuyết huyền bí.

Việc sử dụng 12 con giáp làm biểu tượng cho thời gian và tính cách con người, chủ yếu gắn liền với các dân tộc nằm trong ảnh hưởng của triết học Trung Hoa. Trong triết học biện chứng, người Trung Hoa xây dựng các biến đổi của Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái thành Dịch lý, và dùng Thập Can – Thập Nhị Chi để các con vật – 12 con giáp – mang những tính chất khác nhau, đưa vào lịch Can Chi, Tiết Khí hàng năm.

Sau đây một số quan niệm cổ của người Trung Hoa, về tính chất của mỗi con vật “cầm tinh” trong đời sống tâm linh mỗi người :

1. CON CHUỘT (Tý) : vui vẻ, xởi lởi, dễ gần, dễ mến nhưng hay lo vặt, cũng dễ nổi giận. Học thức ít nhưng lại tự tin vào tài năng. Thích làm đẹp, làm sang cho bản thân trong khuôn khổ. Tuổi Chuột hợp với tuổi các con Khỉ, Rồng, Trâu, kỵ các tuổi Rắn, Chó và Heo (Lợn), đặc biệt tối kỵ với tuổi con Ngựa.

2. CON TRÂU (Sửu) : có tính nhẫn nại, cần mẫn, chịu khó, ít lời, không hay khoe khoang nên dễ tranh thủ sự giúp đỡ của người khác. Tính tình nóng nảy nên dễ sinh cục tính. Người tuổi con Trâu lấy chuyện làm ăn là chính, còn tình cảm thuộc hàng thứ yếu nên khó xây dựng một gia đình hạnh phúc. Hợp với tuổi Chuột hoặc Gà. Không nên lấy tuổi Chó, và kỵ tuổi Heo.

3. CON CỌP – CON HỔ (Dần) : tuổi Cọp thường nhạy cảm, đa tình, có đời sống nội tâm cao nên thường hay do dự. Quả cảm, kiên trì nhưng có vẻ ích kỷ, thiển cận. Có vía dữ ma quỷ cũng tránh, do đó theo quan niệm phương Đông người ta thường cầu mong trong gia đình có người tuổi Cọp. Tuổi này hợp duyên với tuổi con Ngựa và Rồng, khắc tuổi các con Trâu, Rắn, Khỉ.

4. CON MÈO (Mão) : tuổi này thường thành đạt, người nhã nhặn, khiêm nhường, ít giận hờn, hiếu thảo và có giao thiệp rộng, bước vào đời gặp nhiều may mắn. Dễ kinh doanh buôn bán.Tuổi này dễ khóc, dễ cười, chăm học, chăm đọc song lại có ít tài năng đặc biệt. Hợp với tuổi Chó, Dê, Heo, khắc tuổi Chuột, Gà và không hợp tuổi con Rồng.

5. CON RỒNG (Thìn) : khoẻ mạnh, năng nổ, xốc vác, dễ bị khích bác, kích động, nên khó làm chủ bản thân. Có tính gàn bướng nhưng độ lượng, dễ giàu có và tiếng tăm, tuy nhiên cũng dễ bị lôi kéo vào việc xấu. Tuổi này về già được nhàn nhã. Nên lấy người tuổi con Chuột, Rắn, Khỉ, Gà.Tránh Rồng, Trâu, Chó .

6. CON RẮN (Tỵ) : Khôn ngoan, có ý chí, gặp may nhiều và dễ thành đạt. Thích phô trương nhưng ích kỷ và keo kiệt. Đa nghi nhưng khi cho tiền ai thì cũng cho rất nhiều. Có tính thích khen nịnh vì tuổi này khá lãng mạn. Hợp với tuổi Trâu, Gà, khắc với tuổi Cọp và Heo.

7. CON NGỰA (Ngọ) : vui tính, nhưng hay ba hoa, mồm mép; bôn ba nhiều nhưng cũng có tiếng tăm và dễ gây cảm tình. Giỏi kinh doanh, giỏi đoán ý đồ của người khác để “lựa lời ăn nói”. Tuổi con Ngựa có nhiều tài nhưng khó tính, cầu toàn trong công việc, coi tình cảm là thứ yếu. Dễ bị lừa trong yêu đương. Hợp các con Cọp, Chó, Dê. Kỵ con Chuột.

8. CON DÊ (Mùi) : nhạy bén, tinh tế trong cảm xúc, cuồng nhiệt nhưng cũng dễ thất vọng, bi quan. Dễ thích nghi với mọi người. Cuộc đời ít gặp may nhưng lại mộ đạo. Đời sống vật chất tạm ổn. Hợp với các con Mèo, Heo, Ngựa, tránh các con Chuột, Chó, Trâu.

9. CON KHỈ (Thân) : thông minh, hiểu biết nhiều, nhưng không để tâm đến công việc. Nhớ thì làm quên thì cho qua, mặc dù khi xử lý công việc lại khá nhanh nhẹn. Dễ hòa nhập, ngoại giao tốt, trí nhớ dai. Đường tình duyên không may mắn. Gặp tuổi con Chuột, Rồng thì tốt, gặp tuổi Heo, Rắn sẽ kém may, gặp con Cọp thì đại họa.

10. CON GÀ (Dậu) : hay bận rộn lo toan, tham công tiếc việc, việc gì cũng muốn làm nhưng lại dễ bi quan thất vọng. Thích hoạt động xã hội. Tự tin nhưng lại ít tin người. Luôn luôn có đầu óc mộng tưởng viển vông, đến kỳ cục. Tiêu pha hoang phí nhưng trực tính. Hợp với các con Trâu, Rắn, Rồng. Tránh các con Gà, Chuột, Chó. Kỵ nhất là con Mèo.

11. CON CHÓ (Tuất) : biểu hiện tập trung mọi phẩm chất tốt của con người. Ngay thẳng, chân thành, biết mình, biết người, có đức tin và có độ tin cậy cao. Đại lượng, không vụ lợi, người tuổi con Chó ít giao du, sống kín đáo, bướng bỉnh và thẳng thắn, giỏi quản lý, giỏi hoạt động xã hội. Hợp tuổi các con Chó, Cọp, Mèo, Ngựa, không hợp con Trâu, Gà, kỵ các con Rồng, Dê.

12. CON HEO – CON LỢN (Hợi) : kiên định, kiên trì, cuộc đời tuổi con Heo mang tính mục đích rõ rệt. Ít bạn nhưng có tình, sẵn sàng hy sinh vì bạn. Ít nói nhưng vẫn không biết giữ bí mật. Tuổi con Heo không thích cãi vã. Đường tình duyên không thuận lợi. Hợp các con Mèo, Dê, tránh con Khỉ, đại kỵ con Rắn.

Nguồn gốc phát sinh 12 con giáp
Tuy nhiên nhiều người chưa biết tại sao lại có nguôn gốc 12 con vât như thế ?

Tương truyền thời xa xưa người ta lấy mặt trời làm chuẩn cho một ngày lao động : “Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ”. Nhưng gặp ngày trời đầy mây mưa che khuất ánh mặt trời, con người không biết dựa vào đâu để làm việc, vì họ không biết đến giờ giấc.

Có người tên Đại Nhiêu đã sáng tạo ra Thập can (10 can) gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và Thập nhị chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi để tính thời gian, một ngày chia làm 12 giờ (vì một giờ âm lịch gồm 2 tiếng theo dương lịch), và dùng một địa chi biểu thị cho một giờ, lại dùng đến thiên can phối hợp với nó để tính năm như : năm Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần…

Nghe nói thời đó đã có văn tự, Đại Nhiêu liền dùng chữ để diễn tả ý tưởng Can Chi kết hợp thành vòng Lục Thập Hoa Giáp, đồng thời soạn ra bộ lịch coi ngày, giờ, tháng, năm đơn giản.

Nhưng thứ lịch dùng văn tự vừa xuất hiện, trong các bộ tộc rất nhiều người không hiểu ý và không nhớ hết. Hoàng Đế biết việc này liền dùng 12 con vật để làm biểu tượng và chia tên từng năm, hầu cho dân chúng dễ hiểu, dễ nhớ.

Năm Giáp Tý dùng con chuột để biểu thị. Năm Ất Sửu dùng con trâu… Ngày này qua tháng khác mọi người thấy dùng năm Giáp Tý, Ất Sửu khó nhớ, nên gọi luôn là năm chuột, năm trâu… Vì thế những người sinh năm con chuột được cho là cầm tinh con chuột, những người sinh năm trâu là cầm tinh con trâu. Như vậy mỗi người đều cầm tinh một con vật.

Việc cầm tinh tên 12 con vật là sự hình thành kết hợp lẫn nhau của cách tính năm của người xưa.

Theo Triệu Dực, một học giả nổi tiếng đời Thanh, cách lấy động vật để nhớ năm lưu hành có sớm nhất trong dân du mục ở miền bắc nước Trung Hoa. Khi quan sát tinh tú biết được sao Thái Tuế (Mộc tinh) vận hành một vòng hết khoảng 12 năm, và họ lấy phương vị của sao Thái Tuế để tính năm, nhớ năm và dùng tên gọi những con vật quen thuộc nhất đưa vào cho dễ nhớ. Như vậy xuất hiện lịch 12 con giáp.

Về sau kết hợp với phương pháp tính năm theo Can Chi, người ta định hình được vòng Lục Thập Hoa Giáp, giúp người sinh năm nào sẽ có một con vật tương ứng gọi là “cầm tinh”, nhưng tính cách lại dựa vào phần “ngũ hành nạp âm” của chúng, như chuột Giáp Tý (nạp âm là Hải Trung Kim) khác với chuột Bính Tý (Giang Hà Thủy), những con chuột khác cũng vậy : Canh Tý (Bích Thượng Thổ), và Nhâm Tý (Tang Đố Mộc). Theo biện chứng ngũ hành, tính tình sẽ thay đổi theo ngũ hành nạp âm người Hải Trung Kim tính tình cứng rắn, nhưng người Bích Thượng Thổ lại khô khan !

Vương Sung người Đông Hán trong “Luận hành” viết : “ngọ là ngựa, tý là chuột, dậu là gà” chứng tỏ 12 địa chi phối hợp với 12 con vật đã lưu hành từ đời Hán. Cổ nhân căn cứ vào qui luật thời gian các con vật xuất hiện hoạt động, để chọn ra 12 con vật là chuột, trâu, cọp, thỏ (ở Việt Nam gọi là mèo), rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo để tính 12 giờ trong ngày.

Có thể thấy những loại động vật khác nhau, phối hợp với địa chi chẳng qua chỉ theo sự phối hợp của các nhà âm dương đời Hán. Cả hai đều không tồn tại mối liên hệ hữu quan tất yếu nào. Còn đến việc kỵ, tránh trong số mệnh (như trong cưới xin, hợp nhau, xung nhau) hoặc cát hung họa phúc, tính cách hợp, xung… đều là do các thầy bói đặt ra trong mệnh lý học từ xưa đến nay mà thôi.

Vì trong cùng một con vật “cầm tinh” đã kỵ nhau, khi xét đến biện chứng tương khắc hay tương sinh của ngũ hành :

Tương khắc là Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim và Kim khắc Mộc.

Còn tương sinh là Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

Sau đó còn xét đến phần nạp âm của chúng v.v.. nên mọi việc được nói khái lược qua sách báo chưa hẳn đã mổ xẻ hết cuộc đời.

 

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Phong thủy:

Bói toán:

Xem tướng:

 

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay