|
Khi nói về tín
ngưỡng dân gian trong đời sống tâm linh
mọi người, nếu không nhắc đến 12 con
giáp quả thật thiếu xót, vì mỗi người
trong chúng ta đêu cầm tinh một con vật
“thiêng” do trời đất đã định từ khi mới
chào đời, và cũng chính một trong 12 con
giáp ấy cai quản trái đất và loài người
trong một năm, một tháng, một ngày và
một giờ âm lịch với những truyền thuyết
huyền bí.
Việc sử dụng 12 con giáp làm biểu tượng
cho thời gian và tính cách con người,
chủ yếu gắn liền với các dân tộc nằm
trong ảnh hưởng của triết học Trung Hoa.
Trong triết học biện chứng, người Trung
Hoa xây dựng các biến đổi của Âm Dương,
Ngũ Hành, Bát Quái thành Dịch lý, và
dùng Thập Can – Thập Nhị Chi để các con
vật – 12 con giáp – mang những tính chất
khác nhau, đưa vào lịch Can Chi, Tiết
Khí hàng năm.
Sau đây một số quan niệm cổ của người
Trung Hoa, về tính chất của mỗi con vật
“cầm tinh” trong đời sống tâm linh mỗi
người :
1. CON CHUỘT (Tý)
: vui vẻ, xởi lởi, dễ gần, dễ mến nhưng
hay lo vặt, cũng dễ nổi giận. Học thức
ít nhưng lại tự tin vào tài năng. Thích
làm đẹp, làm sang cho bản thân trong
khuôn khổ. Tuổi Chuột hợp với tuổi các
con Khỉ, Rồng, Trâu, kỵ các tuổi Rắn,
Chó và Heo (Lợn), đặc biệt tối kỵ với
tuổi con Ngựa.
2. CON TRÂU (Sửu)
: có tính nhẫn nại, cần mẫn, chịu khó,
ít lời, không hay khoe khoang nên dễ
tranh thủ sự giúp đỡ của người khác.
Tính tình nóng nảy nên dễ sinh cục tính.
Người tuổi con Trâu lấy chuyện làm ăn là
chính, còn tình cảm thuộc hàng thứ yếu
nên khó xây dựng một gia đình hạnh phúc.
Hợp với tuổi Chuột hoặc Gà. Không nên
lấy tuổi Chó, và kỵ tuổi Heo.
3. CON CỌP – CON
HỔ (Dần) : tuổi Cọp thường nhạy
cảm, đa tình, có đời sống nội tâm cao
nên thường hay do dự. Quả cảm, kiên trì
nhưng có vẻ ích kỷ, thiển cận. Có vía dữ
ma quỷ cũng tránh, do đó theo quan niệm
phương Đông người ta thường cầu mong
trong gia đình có người tuổi Cọp. Tuổi
này hợp duyên với tuổi con Ngựa và Rồng,
khắc tuổi các con Trâu, Rắn, Khỉ.
4. CON MÈO (Mão)
: tuổi này thường thành đạt,
người nhã nhặn, khiêm nhường, ít giận
hờn, hiếu thảo và có giao thiệp rộng,
bước vào đời gặp nhiều may mắn. Dễ kinh
doanh buôn bán.Tuổi này dễ khóc, dễ cười,
chăm học, chăm đọc song lại có ít tài
năng đặc biệt. Hợp với tuổi Chó, Dê, Heo,
khắc tuổi Chuột, Gà và không hợp tuổi
con Rồng.
5. CON RỒNG (Thìn)
: khoẻ mạnh, năng nổ, xốc vác, dễ
bị khích bác, kích động, nên khó làm chủ
bản thân. Có tính gàn bướng nhưng độ
lượng, dễ giàu có và tiếng tăm, tuy
nhiên cũng dễ bị lôi kéo vào việc xấu.
Tuổi này về già được nhàn nhã. Nên lấy
người tuổi con Chuột, Rắn, Khỉ, Gà.Tránh
Rồng, Trâu, Chó .
6. CON RẮN (Tỵ)
: Khôn ngoan, có ý chí, gặp may
nhiều và dễ thành đạt. Thích phô trương
nhưng ích kỷ và keo kiệt. Đa nghi nhưng
khi cho tiền ai thì cũng cho rất nhiều.
Có tính thích khen nịnh vì tuổi này khá
lãng mạn. Hợp với tuổi Trâu, Gà, khắc
với tuổi Cọp và Heo.
7. CON NGỰA (Ngọ)
: vui tính, nhưng hay ba hoa, mồm
mép; bôn ba nhiều nhưng cũng có tiếng
tăm và dễ gây cảm tình. Giỏi kinh doanh,
giỏi đoán ý đồ của người khác để “lựa
lời ăn nói”. Tuổi con Ngựa có nhiều tài
nhưng khó tính, cầu toàn trong công việc,
coi tình cảm là thứ yếu. Dễ bị lừa trong
yêu đương. Hợp các con Cọp, Chó, Dê. Kỵ
con Chuột.
8. CON DÊ (Mùi) :
nhạy bén, tinh tế trong cảm xúc,
cuồng nhiệt nhưng cũng dễ thất vọng, bi
quan. Dễ thích nghi với mọi người. Cuộc
đời ít gặp may nhưng lại mộ đạo. Đời
sống vật chất tạm ổn. Hợp với các con
Mèo, Heo, Ngựa, tránh các con Chuột, Chó,
Trâu.
9. CON KHỈ (Thân)
: thông minh, hiểu biết nhiều,
nhưng không để tâm đến công việc. Nhớ
thì làm quên thì cho qua, mặc dù khi xử
lý công việc lại khá nhanh nhẹn. Dễ hòa
nhập, ngoại giao tốt, trí nhớ dai. Đường
tình duyên không may mắn. Gặp tuổi con
Chuột, Rồng thì tốt, gặp tuổi Heo, Rắn
sẽ kém may, gặp con Cọp thì đại họa.
10. CON GÀ (Dậu) :
hay bận rộn lo toan, tham công tiếc việc,
việc gì cũng muốn làm nhưng lại dễ bi
quan thất vọng. Thích hoạt động xã hội.
Tự tin nhưng lại ít tin người. Luôn luôn
có đầu óc mộng tưởng viển vông, đến kỳ
cục. Tiêu pha hoang phí nhưng trực tính.
Hợp với các con Trâu, Rắn, Rồng. Tránh
các con Gà, Chuột, Chó. Kỵ nhất là con
Mèo.
11. CON CHÓ (Tuất)
: biểu hiện tập trung mọi phẩm
chất tốt của con người. Ngay thẳng, chân
thành, biết mình, biết người, có đức tin
và có độ tin cậy cao. Đại lượng, không
vụ lợi, người tuổi con Chó ít giao du,
sống kín đáo, bướng bỉnh và thẳng thắn,
giỏi quản lý, giỏi hoạt động xã hội. Hợp
tuổi các con Chó, Cọp, Mèo, Ngựa, không
hợp con Trâu, Gà, kỵ các con Rồng, Dê.
12. CON HEO – CON
LỢN (Hợi) : kiên định, kiên trì,
cuộc đời tuổi con Heo mang tính mục đích
rõ rệt. Ít bạn nhưng có tình, sẵn sàng
hy sinh vì bạn. Ít nói nhưng vẫn không
biết giữ bí mật. Tuổi con Heo không
thích cãi vã. Đường tình duyên không
thuận lợi. Hợp các con Mèo, Dê, tránh
con Khỉ, đại kỵ con Rắn.
Nguồn gốc phát
sinh 12 con giáp
Tuy nhiên nhiều người chưa biết tại sao
lại có nguôn gốc 12 con vât như thế ?
Tương truyền thời xa xưa người ta lấy
mặt trời làm chuẩn cho một ngày lao động
: “Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn
thì nghỉ”. Nhưng gặp ngày trời đầy mây
mưa che khuất ánh mặt trời, con người
không biết dựa vào đâu để làm việc, vì
họ không biết đến giờ giấc.
Có người tên Đại Nhiêu đã sáng tạo ra
Thập can (10 can) gồm Giáp, Ất, Bính,
Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và
Thập nhị chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn,
Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi để
tính thời gian, một ngày chia làm 12 giờ
(vì một giờ âm lịch gồm 2 tiếng theo
dương lịch), và dùng một địa chi biểu
thị cho một giờ, lại dùng đến thiên can
phối hợp với nó để tính năm như : năm
Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần…
Nghe nói thời đó đã có văn tự, Đại Nhiêu
liền dùng chữ để diễn tả ý tưởng Can Chi
kết hợp thành vòng Lục Thập Hoa Giáp,
đồng thời soạn ra bộ lịch coi ngày, giờ,
tháng, năm đơn giản.
Nhưng thứ lịch dùng văn tự vừa xuất hiện,
trong các bộ tộc rất nhiều người không
hiểu ý và không nhớ hết. Hoàng Đế biết
việc này liền dùng 12 con vật để làm
biểu tượng và chia tên từng năm, hầu cho
dân chúng dễ hiểu, dễ nhớ.
Năm Giáp Tý dùng con chuột để biểu thị.
Năm Ất Sửu dùng con trâu… Ngày này qua
tháng khác mọi người thấy dùng năm Giáp
Tý, Ất Sửu khó nhớ, nên gọi luôn là năm
chuột, năm trâu… Vì thế những người sinh
năm con chuột được cho là cầm tinh con
chuột, những người sinh năm trâu là cầm
tinh con trâu. Như vậy mỗi người đều cầm
tinh một con vật.
Việc cầm tinh tên 12 con vật là sự hình
thành kết hợp lẫn nhau của cách tính năm
của người xưa.
Theo Triệu Dực, một học giả nổi tiếng
đời Thanh, cách lấy động vật để nhớ năm
lưu hành có sớm nhất trong dân du mục ở
miền bắc nước Trung Hoa. Khi quan sát
tinh tú biết được sao Thái Tuế (Mộc tinh)
vận hành một vòng hết khoảng 12 năm, và
họ lấy phương vị của sao Thái Tuế để
tính năm, nhớ năm và dùng tên gọi những
con vật quen thuộc nhất đưa vào cho dễ
nhớ. Như vậy xuất hiện lịch 12 con giáp.
Về sau kết hợp với phương pháp tính năm
theo Can Chi, người ta định hình được
vòng Lục Thập Hoa Giáp, giúp người sinh
năm nào sẽ có một con vật tương ứng gọi
là “cầm tinh”, nhưng tính cách lại dựa
vào phần “ngũ hành nạp âm” của chúng,
như chuột Giáp Tý (nạp âm là Hải Trung
Kim) khác với chuột Bính Tý (Giang Hà
Thủy), những con chuột khác cũng vậy :
Canh Tý (Bích Thượng Thổ), và Nhâm Tý
(Tang Đố Mộc). Theo biện chứng ngũ hành,
tính tình sẽ thay đổi theo ngũ hành nạp
âm người Hải Trung Kim tính tình cứng
rắn, nhưng người Bích Thượng Thổ lại khô
khan !
Vương Sung người Đông Hán trong “Luận
hành” viết : “ngọ là ngựa, tý là chuột,
dậu là gà” chứng tỏ 12 địa chi phối hợp
với 12 con vật đã lưu hành từ đời Hán.
Cổ nhân căn cứ vào qui luật thời gian
các con vật xuất hiện hoạt động, để chọn
ra 12 con vật là chuột, trâu, cọp, thỏ
(ở Việt Nam gọi là mèo), rồng, rắn, ngựa,
dê, khỉ, gà, chó, heo để tính 12 giờ
trong ngày.
Có thể thấy những loại động vật khác
nhau, phối hợp với địa chi chẳng qua chỉ
theo sự phối hợp của các nhà âm dương
đời Hán. Cả hai đều không tồn tại mối
liên hệ hữu quan tất yếu nào. Còn đến
việc kỵ, tránh trong số mệnh (như trong
cưới xin, hợp nhau, xung nhau) hoặc cát
hung họa phúc, tính cách hợp, xung… đều
là do các thầy bói đặt ra trong mệnh lý
học từ xưa đến nay mà thôi.
Vì trong cùng một con vật “cầm tinh” đã
kỵ nhau, khi xét đến biện chứng tương
khắc hay tương sinh của ngũ hành :
Tương khắc là Mộc khắc Thổ, Thổ khắc
Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim và Kim
khắc Mộc.
Còn tương sinh là Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh
Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy
sinh Mộc.
Sau đó còn xét đến
phần nạp âm của chúng v.v.. nên mọi việc
được nói khái lược qua sách báo chưa hẳn
đã mổ xẻ hết cuộc đời.
|