Nói chung ý
nghĩa của TUẦN-TRIỆT là một cách sống được nhắc
nhở trong một môi trường không thuận tiện thì thể
theo tinh đẩu an tọa thuộc loại sáng suốt, mê đắm,
hung tàn v.v... mà gặt lấy những hậu quả hiện tiền.
Tử Bình
Gia Gia bàn về
Tuần Triệt
" Hoả phùng không tắc phát, Kim phùng không tắc
minh"
" Hỏa không tắc phát, Kim không tắc minh "
Hai câu trên cùng một ý và chữ "Minh" đây có nghĩa
là "Kêu". Nghĩa là, trong ngũ hành, Kim, Mộc, Thủy,
Hỏa, Thổ khi ngộ Không Vong, Triệt Không thì chỉ
có 2 hành Hỏa và Kim còn hữu dụng.
Hỏa - thì bốc lên gặp Không thì càng "phát" vì
không bị gì che lấp...
Kim - thì đặc gặp Không rỗng ví như cái chuông,
thì đánh mới "kêu" vang...
Đó là suy luận theo ngũ hành tương tác, còn nói
thêm nguyên lý TUẦN-TRIỆT thì là vầy...
TUẦN
- là nói về một Tuần {đơn vị} có 10 ngày và cũng
là muốn nói đến chỉ có 10 Thiên can mà lại có đến
12 Địa chi, thành ra sẽ có 2 ngày (địa chi) dư ra
không nằm trong phạm vi Tuần đó...
Thế nên, lục thập hoa giáp có 6 Tuần bắt đầu bằng:
-- Tuần GIÁP TÍ... đến Quý Dậu là xong... dư ra
Tuất và Hợi; rồi bắt đầu từ
-- Tuần GIÁP TUÂT... đến Quý Mùi là xong... dư ra
Thân và Dậu; rồi bắt đầu từ
-- Tuần GIÁP THÂN... đến Quý Tỵ là xong... dư ra
Ngọ và Mùi; rồi bắt đầu từ
-- Tuần GIÁP NGỌ... đến Quý Mão là xong... dư ra
Thìn và Tỵ; rồi bắt đầu từ
-- Tuần GIÁP THÌN... đến Quý Sửu là xong... dư ra
Dần và Mão; rồi bắt đầu từ
-- Tuần GIÁP DẦN... đến Quý Hợi là xong... dư ra
Tí và Sửụ
Vì không nằm trong tầm quản hạt của Tuần Giáp, nên
2 cung địa chi Mệnh lâm vào hiển thị sự vô kỷ (kỷ
cương, kỷ luật) nói theo kiểu khó nghe, nói dễ
nghe thì là dễ thích nghi, hòa nhập vì không bị gò
bó bởi cương luật của Tuần Giáp đó nhưng đó cũng
có nghĩa là sự bỏ rơi vô trợ nữạ Đã vô trợ mà
không dễ thích nghi nữa thì CHẾT thôi!
Cho nên, điểm CĂN BẢN cần phải hiểu - đó là cách
sống, lối sinh hoạt của người Mệnh bị Tuần không
vong.
Tuy nhiên, Mệnh bị Tuần không vong có chính tinh
đơn thủ, đồng thủ hoặc không có thì lại có những
tính chất đặc cách ảnh hưởng của chính tinh chi
phối lên trên mình đương số; thế nên Tuần không
vong - không mang ý nghĩa là làm mất đi tính chất
hoặc biến chất v.v.. của chính tinh và các sao tọa
lạc trong cung ấy MÀ nên quán ra một bức tranh
rộng về cách cục này như là HOÀN CẢNH SỐNG, MÔI
TRƯỜNG vô trợ (muốn làm, tính làm) mà hoàn cảnh
không thuận tiện cho tính tình, tính toán của cá
nhân đó bộc phát thực chất của mình.
Ví dụ: Mệnh có Thái Dương cư Tỵ ngộ Tuần - đâu có
nghĩa là người đó không sáng suốt, tính toán dỡ mà
cứ gặp hoàn cảnh vô trợ không thuận tiện cho người
đó ra tay, thì người đó kẹt cứng rồi - lấy gì mà
tiến thoáị Cũng vậy, Mệnh có Hung Tinh ngộ Tuần
thì vì hoàn cảnh không cho phát tác nên mới gọi là
Hung Tinh Ngộ Chế chứ bản chất vẫn là "Tham, Sân,
Si, Mạn, Nghi, Ác kiến v.v..."... con người mà!
TRIỆT
- Tính theo cặp thiên can âm dương tương khắc
tương hợp: Giáp-Kỷ, Ất-Canh, Bính-Tân, Đinh-Nhâm
và Mậu-Quý ở những cung ThânĐậu, Ngọ-Mùi, Thìn-Tỵ,
Dần-Mão và Tí-Sửụ
Giáp khắc Kỷ nhưng lại là tương hợp vì rằng "nhất
âm nhất dương chi vị Đạo" ví như người nam chế
phục đặng người nữ làm vợ - chứ như Giáp khắc Mậu
là khắc triệt để; thế nên, để ý thì thấy tiếp như
sau: Canh khắc Ất nhưng lại là tương hợp , Bính
khắc Tân nhưng lại là tương hợp , Nhâm khắc Đinh
nhưng lại là tương hợp và Mậu khắc Quý nhưng lại
là tương hợp.
TRIỆT - chữ Hán Việt có thể viết theo bộ Sách (bước
ngắn) nghĩa là "trừ bỏ, phá hủy, sửa làm" hay bộ
Thủ (tay) nghĩa là "bỏ đi, trừ đi, cất đi" VÀ có
khi viết với bộ Qua (binh khí: cái mác, đánh nhau:
can qua) mà phát âm là TIỆT nghĩa là "cắt đứt,
đoạn, đánh chặn đường" thì chữ Hán họ viết theo
nghĩa TIỆT cho TRIỆT ở trên.
"cắt đứt, đoạn, đánh chặn đường" là như thế nàỏ
TRIỆT được an theo Ngũ Tí Độn cho các cặp Thiên
can âm dương tương hợp tương khắc trên ví dụ như:
Giáp-Kỷ : Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Giáp Tí đếm đến
NhâmThân-QuýDậu thì an TRIỆT giữa 2 cung ThânĐậụ
Ất-Canh : Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Bính Tí đếm đến
NhâmNgọ-QuýMùi thì an TRIỆT giữa 2 cung Ngọ-Mùị
Bính-Tân : Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Mậu Tí đếm đến
NhâmThìn-QuýTỵ thì an TRIỆT giữa 2 cung Thìn-Tỵ
Đinh-Nhâm : Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Canh Tí đếm đến
NhâmDần-QuýMão thì an TRIỆT giữa 2 cung Dần Mãọ
Mậu-Quý : Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Nhâm Tí đếm đến
Quý Sửu thì an TRIỆT giữa 2 cung Tí-Sửụ
Cách an của TUẦN thì sau Nhâm- Quý dư 2 địa chi
cung lấy đó mà an định cho TUẦN - còn cách an của
TRIỆT thì lại TRIỆT hai can cuối Nhâm và Quý vì
được đúc kết ra cái lý TRỊ THỦY của vua Đại Vũ
thành công nên được thấy thần quy (rùa thần) hiện
lên ở sông Lạc trên lưng có một đồ hình nhiều vạch
như ta biết đồ hình Lạc Thư ngày naỵ
Nhưng nên rõ, đây là TRỊ để YÊN chứ không phải TRỊ
để ĐOẠT thành ra người có Mệnh Thân bị TRIỆT là để
ngăn ngừa, câu thúc những cái quá đà, đam mê thái
quá ví như GIỚI vậy! Điều nữa nên biết về tính
chất của THỦY là chảy mãi không ngừng, nên khi bị
chặn lại thì nó xung kích trở ngược và dậy sóng
nên còn được minh họa là lẩm liệt chi thủỵ Nên TRỊ
để YÊN khỏi vỡ bờ trôi cuốn chứ không ĐOẠT mất
tính chất của nó!
Nói chung ý nghĩa của
TUẦN-TRIỆT là một cách sống được nhắc nhở trong
một môi trường không thuận tiện thì thể theo tinh
đẩu an tọa thuộc loại sáng suốt, mê đắm, hung tàn
v.v... mà gặt lấy những hậu quả hiện tiền.