Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tử vi & Phong thủy

Mục lục

Tử vi Tây Phương:

 

Tử vi Á Đông:

Luận - Học - Thuật số - Tử vi:

Bảng tra cần thiết:

Tử bình:

 

Tử vi & Phong thủy - Phụ trách TN. Last updated 7/2008.

Tử vi và tử vong : Tâm lí hay số mệnh ?

Bác sĩ NGUYỄN VĂN TUẤN

( SYDNEY – AUSTRALIA )

Theo Kinh Dịch, vũ trụ khởi đầu là một khối thống nhất gọi là thái cực; thái cực biến hoá sinh ra lưỡng nghi là âm và dương. Âm và dương kết hợp sinh ra năm loại vật chất (còn gọi là ngũ hành): kim (kim loại), mộc (gỗ), thủy (nước), thổ (đất), và hỏa (lửa). Năm vật chất này tạo thành ba lực lượng: thiên (trời), địa (đất), và nhân (người). Vì thế, theo Tử vi, mỗi con người có một số mệnh. Những thành công, thất bại trong đời sống, thậm chí tử vong, của cá nhân đó đã được định đoạt ngay từ lúc mới ra đời. Một phần lớn của số mệnh chịu sự ảnh hưởng bởi năm sinh. Mỗi năm có liên hệ đến một trong năm thứ vật chất. Dựa vào chữ số cuối cùng của năm sinh, người ta có thể xác định được hành: kim có chữ số 0 và 1, thủy 2 và 3, mộc 4 và 5, hỏa 6 và 7, và thổ 8 và 9. Theo đó, người sinh năm 1904 hay 1995 có mạng mộc, hay những người sinh năm 1956 hay 1967 có mạng hỏa.

Mỗi hành có liên quan đến một bộ phận của cơ thể hay triệu chứng. Chẳng hạn như hỏa có liên quan đến tim; thổ có liên quan đến bứu, khối u, hay nốt; mộc với gan, túi mật; kim với phổi, ruột; và thủy với thận, bàng quang. Vì thế, theo Tử vi, người sinh năm thổ có nguy cơ bị bệnh bứu (như ung thư), những người sinh năm hỏa có nguy cơ bị bệnh tim cao hơn trung bình. Như vậy, theo thuyết Tử vi, những người bị bệnh ung thư sinh vào năm mộc sẽ có tuổi thọ trung bình thấp hơn những người ung thư sinh vào các năm khác. Tương tự, những người bị bệnh tim sinh vào năm hỏa cũng sẽ có nguy cơ chết sớm hơn những người sinh vào những năm khác hỏa.

Đã có nhiều bằng chứng cá nhân cho thấy những tiên đoán của tử vi khá chính xác. Nhưng độ tin cậy của tử vi trên một qui mô lớn hơn, như trong một cộng đồng chẳng hạn, thì thế nào? Để trả lời câu hỏi này, một nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học California tại San Diego (UCSD) do Tiến sĩ David Phillips chủ trì đã tiến hành một cuộc thử nghiệm để kiểm tra giả thuyết [về mối quan hệ giữa tử vi và tử vong] trên đây (1).

Nhóm nghiên cứu đã dày công sưu lục những hồ sơ tử vong từ năm 1969 đến 1990, của 28.169 người Mỹ gốc Trung Quốc (trong bài này sẽ đề cập ngắn là "Người Trung Quốc"), 18 tuổi trở lên. Cứ mỗi hồ sơ người Trung Hoa, họ tìm một cách ngẫu nhiên 20 người Mỹ gốc da trắng, cùng độ tuổi, cùng giới tính và cùng nguyên nhân chết, và cuối cùng họ tìm được 412.632 hồ sơ đáp ứng những tiêu chuẩn này. Họ tập trung nghiên cứu vào hai nguyên nhân chết là bệnh tim và ung thư, vì qua các nghiên cứu tâm lý học trước đây, hai bệnh này chịu nhiều ảnh hưởng tinh thần và tình cảm. Qua vài phân tích thống kê khá phức tạp, họ ghi nhận những dữ kiện, mà tôi có thể tóm gọn như sau:

Người Trung Quốc chết vì bệnh ung thư và sinh vào năm thổ (tạm gọi là "xấu số") có tuổi thọ trung bình là 61,8 năm. Nhưng người Trung Quốc chết vì bệnh ung thư, và không sinh vào năm thổ ((tạm gọi là không xấu số) có tuổi thọ trung bình là 63,0 năm. Tức là, so với đồng hương sinh vào các năm thủy, hỏa, mộc, và kim, người Trung Quốc sinh vào năm thổ chết sớm hơn khoảng 1.2 năm, vì chứng ung thư.

Trong người Mỹ da trắng, người "xấu số" -- bị ung thư và sinh vào năm thổ -- cũng chết sớm hơn người có cùng bệnh nhưng sinh vào các năm khác; tuy nhiên độ khác biệt chỉ 0.13 năm (tức khoảng 1 tháng).

Người Trung Quốc xấu số -- bị bệnh tim và sinh vào năm hỏa -- có tuổi thọ trung bình là 74,6 năm. Tuy nhiên, người Trung Quốc với bệnh tim nhưng không sinh vào năm hỏa có tuổi thọ trung bình là 73,9 năm. Sự khác biệt này không đáng chú ý, vì qua phân tích thống kê, nó nằm trong giới hạn của ngẫu nhiên.

Tuy nhiên, người Mỹ da trắng với bệnh tim và sinh vào năm hỏa chết sớm hơn đồng hương của họ [với cùng bệnh] nhưng sinh vào các năm khác khoảng 0,5 năm (tức khoảng 6 tháng).

Ngoài ra, người Trung Quốc sinh năm thổ và bị tiểu đường, hay loét tiêu hóa (peptic ulcer); người sinh năm kim và bị suyển, hay viêm phế quản cũng chết sớm hơn (từ 0.4 đến 5 năm) những đồng hương có cùng bệnh nhưng sinh khác năm. Nhưng khuynh hướng yểu này không được ghi nhận trong người Mỹ da trắng.

Qua tỷ lệ dão nghiệm tử thi, các nhà nghiên cứu có thể ước đoán được người Trung Quốc vẫn còn tin theo truyền thống và những người không tin theo truyền thống Tử vi. Các nhà nghiên cứu khám phá rằng những người tin theo truyền thống và có "số mệnh xấu" càng chết sớm hơn những người không còn tin theo truyền thống.

Một vài mô hình có thể đặt ra để giải thích cho những kết quả trên đây. Một là Tử vi chính xác: những người mang số xấu thường chết sớm. Nhưng nếu Tử vi đúng thì tại sao trong người Mỹ da trắng lại không có sự khác biệt nào đáng kể giữa những người "yểu mệnh" và những người không yểu mệnh? Có thể Tử vi chỉ phù hợp cho người Trung Quốc, mà không ứng dụng cho người Mỹ? Nhưng giả thuyết này cũng không giải thích được tại sao người Trung Quốc tin vào truyền thống lại chết sớm hơn người thiếu tin vào truyền thống văn hóa hay Tử vi?

Những người có gia đình có khuynh hướng sống lâu hơn những người độc thân, ly dị, hay ly thân. Cách giải thích thứ hai, do đó, là có thể những người mang số xấu không muốn có gia đình, vì ý nghĩ tiêu cực là họ sẽ chết sớm. Nhưng số liệu trong nghiên cứu không phù hợp với giả thuyết này, vì tỷ lệ có gia đình trong những bệnh nhân xấu số là 67%, so với 66% trong những người không xấu số.

Cách giải thích thứ ba, theo tôi, là đáng để ý hơn cả: yếu tố tâm lý. Nhưng đây lại là yếu tố khó định lượng một cách chính xác. Những người mang "số xấu" có thể đã không có ý định từ bỏ những tập tục, cách sống thiếu lành mạnh, vì nghĩ rằng họ đã được thượng đế đặt cho mình một số phận như thế. Chẳng hạn như những người sinh năm hỏa và bị bệnh tim, hay những người sinh năm thổ và bị bệnh ung thư, có thể không muốn thay đổi thói quen ăn uống hay bỏ hút thuốc. Sự chấp nhận số mệnh một cách tiêu cực như thế có thể giải thích tại sao những người Trung Quốc, nhất là những người còn tin vào truyền thống văn hóa xa xưa, bị bệnh mà theo tử vi có quan hệ đến năm sinh chết sớm hơn người Mỹ da trắng.

Gần đây, một số nghiên cứu trên những bệnh nhân bị ung thư ngực cho thấy bệnh nhân nào "chấp nhận" cái chẩn đoán ung thư ngực như một bản án tử hình (tức là cảm thấy và chấp nhận một tuyệt vọng) thường hay chết sớm hơn những bệnh nhân không có đặc tính tâm lý này. Vì thế, niềm hi vọng vào sự sống, tính đấu tranh quyết liệt với bệnh tật, và sự tự tin của bệnh nhân thường là những động lực đáng kể có thể kéo dài sự sống và tuổi thọ.

Đối với người bị bệnh, điều khổ tâm nhất là nỗi đau đi kèm theo với căn bệnh. Không chỉ đau về thể xác, mà còn đau về tinh thần. Nỗi đau tinh thần này thường xoay quanh những niềm sợ hãi như sợ bị chết, sợ mất diện mạo, sợ mất độc lập, sợ mất quan hệ xã hội và gia đình, lo sợ cho tương lai. Người bị bệnh có khi tự cô lập bằng cách không muốn giao tiếp với bạn bè, đồng nghiệp, thậm chí thân nhân, vì họ không muốn người ngoài có ấn tượng về một thân hình tiều tụy mà họ đang chịu phải. Bệnh nhân cảm thấy mất niềm tin, mất tự tin, mất sự tự trọng. Những bệnh nhân này thường có khả năng đề kháng bệnh tật rất yếu. Ngay cả, dùng thuốc giảm đau, họ cũng có cảm giác như liều lượng không đầy đủ để kiềm chế sự đau đớn! Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy nhiều nghiên cứu ghi nhận rằng những bệnh nhân như thế thường có tỷ lệ tử vong cao hơn trung bình.

Ngược lại, những bệnh nhân có tự tin cao, có quyết tâm chống trả lại bệnh tật thường là những người có khả năng thích nghi với môi trường [bệnh tật] mới nhanh, và có ý thức cao về sức khỏe. Họ cũng là những bệnh nhân sẵn sàng thay đổi cách sống cho lành mạnh hơn. Do đó, khả năng đề kháng những bệnh mãn tính như viêm khớp xương, tiểu đường, suyển, v.v... của họ cũng rất cao, và có tỷ lệ tử vong thấp hơn những bệnh nhân "tiêu cực" với bệnh tật.

Ngay cả những dịp lễ lạt quan trọng như Tết trung thu cũng có ảnh hưởng đến tinh thần của bệnh nhân, và qua đó có thể kéo dài sự sống. Thưc vậy, trong một nghiên cứu được công bố trên tờ Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ (Journal of the American Medical Association, hay JAMA), các nhà xã hội học thuộc Trường Đại học California tại San Diego (UCSD) khám phá ra rằng tỷ lệ tử vong trong người Trung Quốc giảm 35% trong tuần lễ trước, nhưng tăng cũng vào khoảng 35% trong tuần lễ sau, ngày Tết trung thu (2). Các nhà nghiên cứu này còn tiến hành thêm một nghiên cứu khác trong người Do Thái, và có ghi nhận tương tự: Trong tuần lễ trứơc này lễ Passover (một ngày lễ trọng đại trong văn hóa Do Thái), tỷ lệ tử vong giảm khoảng 27% đến 65%; nhưng tuần lễ sau ngày lễ này, tỷ lệ tử vong tăng lên khoảng 17% đến 35% (tùy theo bệnh) (3). Điều đáng ghi nhận là trong người Mỹ da trắng tỷ lệ tử vong trước, trong, và sau hai ngày lễ này (Trung thu và Passover) không thay đổi.

Sau khi thử nghiệm vài giả thuyết để giải thích hiện tượng này, các nhà nghiên cứu kết luận rằng xu hướng sụt-trồi về tỷ lệ tử vong này là do sự trì hoãn cái chết hay cố kéo dài sự sống trứơc một ngày lễ lớn hay những ngày có ý nghĩa quan trọng như ngày sinh nhật chẳng hạn.

Tổng thống Thomas Jefferson và John Adams chết cùng ngày (4 tháng 7), 50 năm sau ngày Tuyên bố Độc lập (Declaration of Independence). Có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ cho đây chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng hồi ký của bác sĩ riêng của ông Jefferson cho thấy ông quả có ý thức về ngày lễ trọng đại này. Ngoài ra, một nghiên cứu trước đây cho thấy bệnh nhân có xu hướng chết sau, hơn là trước, ngày sinh nhật (4). Ngược lại, có những ngày có thể gây ra tinh thần căng thẳng (stress) như tuần lễ nhận giấy đòi nợ (bills) có thể là một động cơ làm tăng nguy cơ tử vong. Thật vậy, một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí nghiên cứu y học New England Journal of Medicine cho thấy tỷ lệ tử vong trong người già vào những ngày đầu tuần (như Thứ Hai) cao hơn gấp hai lần so với những ngày khác trong tuần.

Nói tóm lại, những yếu tố tâm lý có ảnh hưởng lớn đến thời điểm và nguy cơ tử vong, nhất là trong người cao tuổi. Nhưng ảnh hưởng tâm lý trong bệnh vẫn còn là một vấn đề ít khi được nghiên cứu cho có hệ thống. Nhìn qua sự thăng trầm của thuyết psychosomatics, hay thuyết về mối tương tác giữa tinh thần và cơ thể, người ta có thể liên tưởng đến một cõi đi về.

Trong các văn hóa cổ xưa, vào thời Trung cổ, người ta tin rằng bệnh tật là hậu quả của sự suy nhược về cả tinh thần và cơ thể. Nhưng trong khoảng 300 năm trở lại đây, giới y học Tây phương cho rằng cơ thể và tinh thần là hai "thực thể" khác nhau, không có liên hệ gì với nhau; vì thế, họ có khuynh hướng chú trọng vào phần cơ thể, nhưng lại không để ý thích đáng đến phần tinh thần. Song, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy quan điểm này cực kỳ sai lầm. Cơ thể và tâm trí luôn luôn tương tác lẫn nhau. Sự nhận thức, suy nghĩ, ý định, ý muốn, và nỗi băn khoăn có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể và hành động của con người. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu dùng các kỹ thuật sinh học hiện đại để khai thác mối tương tác giữa tinh thần và cơ thể. Tuy có một vài tiến bộ trong việc xác định một số kích thích tố (hormones) như prostanoids, free radicals; cytokines như IL-1; và một loại gas có tên là nitric oxide có chức năng [hay có liên quan đến việc] chuyên chở tín hiệu và hiệu lệnh từ bộ não đến các cơ quan khác trong cơ thể để "làm việc", nhưng nói chung, chưa ai hiểu rõ và chính xác mối liên hệ giữa hai hệ thống tinh thần và cơ thể này.

Bộ não là cơ quan điều khiển hành vi và tâm lý của con người. Trong những năm gần đây, có hàng trăm nghiên cứu cho thấy cường độ và cách thức hoạt động của bộ não chịu sự ảnh hưởng của các di truyền tố (genes). Tất cả các hoạt động của hormones, không ít thì nhiều, đều chịu sự chi phối của các di truyền tố. Khi nghiên cứu trong những người sinh đôi, người ta thấy những cặp sinh đôi một hợp tử (monozygotic twins) có suy nghĩ và hành vi giống nhau đến 80% so với những cặp sinh đôi hai hợp tử (dizygotic twins) (5) mà mức độ giống nhau chỉ khoảng 30%. Cách đây khoảng 5 năm, báo chí Úc có tường trình 3 cặp sinh đôi sống cách nhau cả ngàn dặm, nhưng thời điểm họ chết chỉ cách nhau trên dưới 5 phút! Theo ước tính của các nhà di truyền học, khoảng 40 đến 60% nguy cơ và thời điểm tử vong là do các di truyền tố quyết định. Vì thế, theo tôi, "số mệnh" mà tử vi đề cập đến có thể hiểu như là di truyền tố.


Chú thích


Những bài báo khoa học đề cập trong bài viết này được công bố trên các tạp chí hay sách sau đây:

[1] Phillips DP, Ruth TE, Wagner LM. Psychology and survival. Lancet 1993; 342:1142-5.

[2] Phillips DP, Smith DG. Postponement of death until symbolically meaningful occasions. JAMA 1990; 263:1947-51.

[3] Phillips DP, King EW. Death takes a holiday: mortality surrounding major social occasions. Lancet 1988; 24:728-32.

[4] Kunz P. A time to die: a study of the relationship of birthdays and time of death. Omega 1980; 10:281-9.

[5] Sinh đôi một hợp tử là những người được sinh do một trứng duy nhất được thụ tinh nhưng sau đó bị phân chia để thành hai thai nhi, và vì thế cả hai có chung 100% tất cả các di truyền tố (genes). Sinh đôi hai hợp tử do hai noãn cùng được thụ tinh một lúc; họ chỉ có chung 50% các di truyền tố.

 =====

 
 

MẪU NGƯỜI “ĐA TÀI ĐA NĂNG”

 
Chúng ta vẫn thấy những người tuy sống trong một hoàn cảnh thoải mái, một cuộc sống tương đối đầy đủ nhưng nét mặt của họ lúc nào cũng có sự tư lự, một nét suy tư nào đó, hay phảng phất trên mặt một thoáng buồn miên man như người đang ôm một nỗi niềm tâm sự sâu kín.

Khoa Tử Vi, những người này thường cung Mệnh của họ đều có Tang Môn hoặc Bạch Hổ tọa thủ, và chúng ta gọi là mẫu người Tang Hổ.

Hai sao Tang Môn, Bạch Hổ là hai bại tinh trong nhóm lục bại. Tuy là hai bại tinh, nhưng người Tang Hổ không phải là người bất tài vô tướng theo cái ý nghĩa mà chúng ta vừa nói đến. Ngược lại, có rất nhiều người đã thành danh cũng nhờ vào hai sao Tang Hổ.

Tang Môn thuộc hành Mộc. Bạch Hổ thuộc hành Kim, cả hai đắc địa tại Dần Thân Mão Dậu. hai sao này lúc nào cũng đi đôi với nhau ở vị trí xung chiếu. Tang Hổ đắc địa thủ mệnh là người gan dạ, cương quyết và ngay thẳng. Người Tang Hổ có đủ sự gan lì để thử thách với nghịch cảnh. Khả năng đó có thể xem như ông Trời dành riêng cho họ vì cuộc đời của những người này kể từ lúc lột lòng mẹ thì sự thử thách dành cho họ đã chờ sẳn rồi.

Người Tang Hổ thường chịu cảnh mồ côi từ lúc còn bé, nếu không thì tuổi thơ ấu cũng phài chịu cảnh xa cha mẹ, gia đình ly tán, thiếu tình thương và sự đùm bọc của cha mẹ, anh chị. Phải chăng vì vậy mà người Tang Hổ luôn có một nét buồn sâu kín trên khuôn mặt, và nét buồn này sâu đậm nhất trong khoảng thời gian của tuổi thanh xuân tức là khoảng tiền vận rồi sau đó sẽ phai nhạt dần. Để bù trừ cho những bất hạnh đó, người có Tang Hổ đắc địa là người đa tài đa năng, đa hiệu. Tuy tính tình cương quyết và đôi khi trở thành ương ngạnh, nhưng họ là người quyền biến và có khả năng giải quyết công việc cho thích ứng với hoàn cảnh. Năng khiếu nổi bậc nhất của họ là sự suy luận và phán đoán rất sắc bén.

Đó chính là yếu tố căn bản cho khả năng hùng biện cũng như khả năng thuyết phục người khác. Vì vậy, những lãnh vực về chính trị, ngoại giao và luật pháp đều là những sở trường của người Tang Hổ. Trong trường hợp Tang Hổ hãm địa thủ mệnh thì cuộc đời luôn gặp nhiều nghịch cảnh đau thương, ngang trái. Nếu không làm những ngành nghề liên quan như cảnh sát, toà án, luật sư…thì dễ vướng vào vòng tù tội và tuổi thọ cũng ngắn ngủi. Về vấn đề bệnh tật, nói chung cả nam lẫn nữ, dù đắc hay hãm, người Tang Hổ thường hay bị đau ốm bệnh tật, nhất là những bệnh về xương, máu như cao huyết áp, mỡ trong máu…

Riêng với nữ mệnh thì nét mặt u sầu, chưa lập gia đình thì tình duyên trắc trở, lận đận, khi có gia đình rồi lại khắc chồng khắc con, nếu gặp thêm Thiên Riêu thì mức độ hình khắc có thể thành sát phu. Cho nên nếu lập gia đình muộn cũng có thể chế giải được phần nào. Nữ mệnh Tang Hổ thì vấn đề sinh nở thường hay gặp khó khăn, khi có con thì lại khổ vì con cái và dễ mắc những bệnh về các bộ phận sinh sản như tử cung, buồng trứng…

Ngoài ra, người Tang Hổ, dù nam hay nữ, lúc còn trẻ không có tay nuôi súc vật, phải vào trung vận thì đặc tính này mới giảm dần. Mệnh an tại Dần có Bạch Hổ là cách Hổ Cư Hổ Vị là cọp trong rừng sâu. Đây chỉ người có tài, có địa vị, quyền uy, và thường phát về võ nghiệp. Mệnh an tại Mão có Bạch Hổ là cách Hổ Xuất Sơn Lâm. Cung Mão thuộc phương đông, là thời gian của bình minh, là thời điểm bắt đầu của một ngày, ánh mặt trời vừa rực rỡ, biểu tượng cho một vận hội tốt đẹp đang chờ đón.

Cho nên, người đắc cách này, cuộc đời thường hay gặp được những may mắn đưa đến sự thành công dễ dàng. Bạch Hổ ở hai vị trí Mão Dậu còng gọi là cách “tứ phương củng phục anh hùng” ý nói những người có khả năng lãnh đạo, thâu phục được anh hùng hào kiệt bốn phương. Người mệnh an tại Dậu có Bạch Hổ là cách Hổ Khiếu Tây Phương. Cung Dậu thuộc phương Tây, là thời gian của hoàng hôn vì vậy có người cho rằng Bạch Hổ ở Dậu không tác hại vì đó là lúc cọp đã ăn no nên vào sâu trong rừng mà ngủ.

Theo ý của người viết thì hai chữ Tây Phương hàm ý là “cõi Phật” Khiếu Tây Phương là hướng về phương Tây là lạy, cũng có nghĩa là có lòng hướng Phật. Người có cách này là người có tánh tình nhân hậu và thường có khuynh hướng tôn giáo mạnh mẽ. Chỉ nói riêng về lĩnh vực tâm linh, thì người Bạch Hổ Khiếu Tây Phương có phần nào giống người Tử Tham Mão Dậu.

Trong hai sao Tang Hổ thì Bạch Hổ có tầm ảnh hưởng đáng kể hơn Tang Môn. Ví dụ như Bạch Hổ đi với Tấu Thư (Hổ Tấu) có nghĩa là Hổ mang hòm sách, chỉ người có số khoa bảng, học rộng hiểu nhiều. Bạch Hổ gặp Phi Liêm (Phi Hổ) như Hổ mọc thêm cánh, cách này giống như Phi Mã, chỉ những người thường gặp được các vận hội may mắn đưa đến sự thành công rất dễ dàng trong cuộc đời. Hạn gặp Phi Hổ hay Phi Mã là vận may đang đến, nếu dự tính điều gì thì nên mạnh dạn xúc tiến, thi cử sẽ đỗ đạt, tìm việc làm sẽ được như ý, có việc rồi thì sẽ được thăng chức thăng lương…

Bạch Hổ cũng là một trong Tứ Linh (Long Phượng Hổ Cái) Mệnh, Quan, Phúc, Di đắc Tứ Linh thì đường công danh thuận lợi và có địa vị trong xã hội. Bộ Tứ Linh cũng chế giải được phần nào những tai họa do các hung sát tinh gây ra. Hạn Tứ Linh là cơ hội tốt cho vấn đề công danh. Bạch Hổ và Thiên Hình hay Kình Dương đồng cung thủ Mệnh là cách “hổ hàm kiếm” = Hổ ngậm kiếm, chỉ người gan dạ, oai dũng, có tư cách và chí khí, nếu có thêm những võ tinh hội họp thì đường binh nghiệp sẽ phát rất nhanh. Tang Hổ cũng là những sao lưu, cho nên hạn có Tang Hổ, gặp Lưu Tang, Lưu Hổ là có tang trong hạn đó. Tang Hổ nhập hạn gặp Khốc Hư cũng cùng một ý nghĩa.

Ngoài việc có tang, hạn gặp Tang Hổ cũng nên đề phòng tai nạn và bệnh tật, nhất là những chứng bệnh về máu huyết và bệnh về xương như đau khớp, rỗng xương… Đàn bà lúc có thai và sinh nở mà hạn gặp Tang Hổ cũng nên đề phòng việc sinh khó hoặc hư thai. “Nam nhân Tang Hổ hữu tài uyên bác Nữ mệnh Hổ Riêu đa sự quả ưu” Hai câu trên có thể dùng để tóm lược những nét đặc thù của mẫu người Tang Hổ: đàn ông Tang Hổ thì đa tài đa năng. Đàn bà Tang Hổ tình duyên ngang trái, gia đạo buồn phiền.

Theo Cuộc Đời và Số Mệnh - NKVT - Bin571 st

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Phong thủy:

Bói toán:

Xem tướng:

 

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay