|
Trong
Lịch
sử
văn
minh
nhân
loại
,
loài
người
là
một
sinh
vật
duy
nhất
luôn
luôn
đặt
ra
cho
mình
câu
hỏi
đầy
ray
rứt
:
• Ta
từ
đâu
đến
?
•
Tại
sao
ta
đến
chốn
này
?
• Ta
sống
để
làm
gì ?
• Và
Ta
sẽ
ra
sao
?
Các
câu
hỏi
này
đã
theo
chân
loài
người
từ
buổi
bình
minh
của
nhân
loại
đến
muôn
đời
sau
nữa
.
Trong
kho
tàng
văn
minh
cổ
của
loài
người
, có
nhiều
thuyết
để
trả
lời
một
phần
các
câu
hỏi
trên
,trong
đó,
văn
minh
Trung
Quốc
đã
cho
người
Trung
quốc
một
luận
thuyết
Tử
Vi
nổi
tiếng
, để
trả
lời
một
cách
gián
tiếp
cho
các
câu
hỏi
trên
thông
qua
sự
giải
đoán
vận
mệnh
con
người
.Các
nhà
luận
giải
Tử
Vi
còn
có
tham
vọng
giải
đoán
đến
cả
quá
khứ
xa
xưa
của
tổ
tiên
nữa
, và
có
thể
cả
cho
ngày
sau
,
đến
cả
hậu
duệ
sau
này
nữa
!
Nguyên
lý
Tử
Vi
.-
Chúng
ta
điểm
qua
một
số
lý
luận
chính
của
Tử
Vi ,
trên
cơ
sở
phân
tích
Tâm
lý-Xã
hội
học
và
Tâm
Lý
học
Phật
giáo
, để
tìm
nguyên
ủy
bản
chất
của
việc
giải
đoán
Vận
mệnh
con
người
.
1.
Nền
tảng
của
Tử
vi
xuất
pháp
từ
triết
học
Kinh
Dịch
với
nguyên
lý
Nhất
Nguyên
Lưỡng
Cực
và
sự
chuyển
dịch,
đổi
thay
của
vạn
vật
tượng
trưng
qua
64
quẻ
Dịch
. Sự
luận
đoán
dựa
vào
sự
tương
hợp,
tương
phản
của
thuyết
Âm
Dương
; sự
tương
sinh,
tương
khắc
của
Ngũ
hành
; và
lý
luận
“dịch”
này
của
Kinh
Dịch
.
2.
Tính
cách
chính
của
người
có
lá
số
Tử
vi
là
tính
cách
kết
hợp
của
các
Bộ
Sao
.
Trong
đó ,
bộ
sao
chính
(
sao
chủ
Mệnh
hoặc/và
Sao
chủ
Thân
) ,
là
tính
cách
cơ
bản
, và
các
sao
phụ
(
sao
tham
chiếu
) là
tính
cách
bổ
sung
.
3.
Sự
luận
đóan
được
cho
là
Nguyên
thuỷ
, là
từ
Tiên
sinh
Trần
Đoàn
,
qua
quyển
Tử
Vi
Đẩu
số
Toàn
thư
.
Càng
về
sau,
các
nhà
luận
giải
càng
đi
sâu
vào
các
khía
cạnh
khác
nhau
của
các
thuyết
Âm
Dương
Ngũ
Hành
trong
bối
cảnh
của
Lá
số
Tử
vi .
Do
vậy,
các
luận
giải
thường
mang
theo
cả
những
cảm
nghĩ
và
kinh
nghiệm
chủ
quan
của
người
luận
giải
.
nên
phát
sinh
ra
khá
nhiều
trường
phái
Tử
Vi
giải
đóan
.
Cho
nên
không
lấy
gì
lạ
nếu
,
trong
cùng
1 lá
số,
có
nhiều
luận
giải
tương
phản
nhau
.
Cái
nào
đúng
?
Cái
nào
sai
? và
đâu
là
nguyên
nhân
?
4.
Lá
số
Tử
vi
bao
gồm
nhiều
thành
phần
:
a.)
Phần
Trung
Cung
, có
khi
gọi
là
Phần
Tiên
Thiên
:
gồm
các
yếu
tố :
(i.)
Giờ
sinh
:
ngày
đêm
được
chia
thành
12
giờ
( so
với
giờ
hiện
đại
,
mỗi
giờ
Trungquốc
bằng
2
giờ
Tây
phương
) ,
được
qui
chiếu
vào
Can
Chi
. Và
ngày
xưa
không
cóphạm
trù
múi
giờ,
nên
các
nhà
luận
giải
ngày
nay
đưa
thêm
vào
đó,
hệ
qui
chiếu
giờcho
các
múi
giờ
kinh
tuyến
khác
nhau
(
bằng
kinh
tuyến
Greenwich
) .
(ii.)
Ngày
sinh
:
được
căn
cứ
vào
tuần
trăng
Âm
lịch,
có
sự
hiệu
chỉnh
của
Dương
lịch
cho
các
mốc
Thiên
văn
:
Xuân
&
Thu
phân
,
Đông
& Hạ
chí
. Và
được
qui
chiếu
thành
Can
&
Chi
.
(iii.)
Tháng
sinh
:
thường
thì
vẫn
dùng
12
tháng
cho
12
con
giáp
với
sự
qui
chiếu
với
10
can
.
Tuy
nhiên,
vì
Âm
lịch
có
hiệu
chỉnh,
nên
việc
nhuần
thêm
tháng
sẽ
làm
một
số
năm
có
ngày
tháng
trùng
hợp
.
(iv).
Năm
sinh
: do
12
chi
và
10
can,
nên
tổ
hợp
này
lập
thành
một
quyển
lịch
60
năm
,
được
sử
dụng
từ
thời
thượng
cổ
đến
ngày
nay
.
Do
Giờ,
Ngày,
tháng,
năm
được
qui
chiếu
thành
10
Can
và
12
Chi
.
Mỗi
Can
,
Chi
đều
có
tính
Âm
Dương
và
Ngũ
Hành
.
Việc
gán
cho
Can
,
Chi
của
Giờ,
Ngày,
Tháng,
Năm
cũng
không
được
giải
thích
vì
sao
phải
như
thế
? và
khi
nào
là
ngày
bắt
đầu
?
Mọi
việc
phải
được
mặc
nhiên
chấp
nhận
,
như
là
một
giả
thiết
của
khoa
học
ngày
nay
.
Căn
cứ
vào
nguyên
tắc
này
,
mỗi
ngày
, có
12
lá
số ,
một
năm
bình
quân
có
365
ngày
, sẽ
có
4.380
lá ;
một
vòng
chu
thiên
60
năm
, sẽ
có
60 X
4380
lá
số +
180
lá (
do
có
thêm
12
ngày
nhuận
) .
Tổng
cộng
toàn
thể
nhân
loại
được
qui
đinh
trong
khoảng
262.980
lá
số .
Chúng
ta
lưu
ý :
Tử
Vi
chỉ
dựa
vào
giờ
(
tức
là
Kinh
Độ
địa
lý )
, mà
không
đề
cập
đến
Vĩ
Độ
địa
lý .
Trong
khi
sự
phân
bổ
Sinh
Quyển,
các
hệ
thống
sinh
thái
thay
đổi
mãnh
liệt
theo
Vĩ
Độ
địa
lý
và
Cao
độ
địa
hình
. Có
lẽ,
tiên
sinh
Trần
Đòan
chỉ
luận
Tử
vi
chỉ
cho
ngườI
Trung
Quốc
ở
tại
vùng
đồng
bằng
Trung
Nguyên
mà
thôi
.
b.
Phần
Ngoại
cung
,
cũng
được
gọi
là
Hậu
Thiên
,
gồm
có
12
cung
,
bao
gồm
:
(i.)
Những
bộ
Tam
Hợp
: có
4 bộ
X 3
cung
(ii.)
Có 6
bộ
Xung
chiếu
= 6
x 2
cung
(iii.)
Có
12
bộ
Nhị
hợp
(
còn
gọi
là
Tiền
Hậu
)
Tất
cả
các
cung
đều
phải
có
tính
Âm
Dương
và
Ngũ
Hành
, và
phương
hướng
địa
lý
theo
Hậu
Thiên
Bát
Quái
(
Kinh
Dịch
– và
vì
sao
không
sử
dụng
phương
hướng
trong
Tiên
Thiên
? )
nên
cũng
được
gán
cho
các
Hành
tương
đương
. Ví
dụ :
phương
Tây
của
Trung
quốc
(
Đoài
cung
)
thuộc
hành
Hoả
là
vậy
.
Phần
ngoại
cung
này,
biểu
hiện
rõ
nét
đặc
thù
của
một
xã
hội
phong
kiến
nông
nghiệp
Trung
Quốc
ngày
xưa
,
qua
các
thành
phần
cấu
tạo
nên
xã
hội
này
như
:
•
Gia
đình
:
các
cung
Mệnh\
(
Thân
) ,
Phụ
Mẫu
,
Phúc
Đức
,
Tật
Ách
( về
Bệnh)
, Tử
,
Phối
ngẫu
,
Huynh
Đệ .
• Xã
hội
:
các
cung
Quan
lộc
(
giai
cấp
Sĩ ,
Binh
) ,
Nô
bộc,
Thiên
Di ,
Tật
Ách
( về
Hình
)
•
Kinh
tế :
các
cung
Điền
trạch
(
giai
cấp
Nông
) ,
Tài
Bạch
(
Giai
cấp
Công
và
Thương
) .
Do
vậy,
trong
bối
cảnh
kinh
tế
xã
hội
ngày
nay,
sự
phân
chia
các
Cung
như
trên
có
lẽ
không
còn
hợp
thời
nữa
.
c.
Phần
an
sao
trong
các
cung
:
Các
bộ
sao
chính
:
(i.)
Tử
Phủ
Vũ
Tướng
(ii).
Âm
Dương
(iii).
Cơ
Nguyệt
Đồng
Lương
(iv.)
Sát
Phá
Tham
Liêm
Bốn
bộ
sao
này
còn
tạo
thành
các
cục
dưới
bộ
sao
, do
thiếu
hoặc
thêm
một
hoặc
vài
sao
trong
cùng
một
bộ
hoặc
khác
bộ
sao
. Sự
giải
đoán
Tử
vi
dựa
chính
yếu
vào
các
Cục
Cách
an
sao
này.
Còn
các
chi
tiết
diễn
giải
rộng
ra ,
thì
tham
chiếu
thêm
các
phần
Trung
Cung,
Ngoại
Cung
, và
tiến
xa
hơn
nữa,
phối
hợp
với
các
Sao
&
Cung
khác
trong
các
lá
số
của
Tứ
Thân
Phụ
Mẫu
(
Hợp
Cách)
.
Các
bộ
sao
này
đại
diện
cho
các
tính
cách
cá
nhân
qua
các
nghề
nghiệp
chính
trong
xã
hội
thời
xa
xưa
như
: Sĩ
,
Nông
,
Công
,
Thương
,
Binh
đồng
thời
cũng
phản
ánh
những
giai
cấp
chính
trong
cơ
cấu
xã
hội
đó (
Vua
,
Quan
văn
võ )
;
giai
cấp
chủ
(điền
chủ,
Công
chủ
và
Thương
chủ
) và
cuối
cùng
là
dân
dã ,
nông
nô ,
nô
lệ .
d.
Cuối
cùng
,
còn
các
sao
tham
chiếu
khác
,
dùng
để
bổ
sung
các
tính
cách
phụ
cho
các
bộ
sao
chính
.
Nguyên
thủy
tất
cả
có
108
sao
,
càng
về
sau,
các
nhà
luận
giải
thêm
vào
một
số
sao
khác
để
minh
hoạ
trường
phái
luận
giải
của
mình,
cho
đến
ngày
nay
tất
cả
gồm
hơn
120-
128
sao
. Và
dĩ
nhiên
,
tất
cả
các
sao
đều
phải
có
tính
Âm
Dương
và
Ngũ
Hành
. Có
lẽ
các
nhà
luận
giải
thấy
bế
tắc
trong
một
số
tình
huống
kinh
tế
xã
hội
phát
sinh
về
sau
,
nên
thêm
vào
để
có
thêm
các
yêu
tố
mới
để
cập
nhật
phần
luận
giải
e.
Do
đó,
tổng
hợp
từ
Trung
cung
đến
Ngoại
cung
và
các
sao
,
chúng
ta
thấy
1
rừng
tương
sinh,
tương
khắc,
tương
hợp,
tương
phản
,
làm
cho
sự
luận
giải
trở
nên
vô
cùng
“mờ
mịt
“
Sự
luận
giải
của
Tử
Vi :
1.
Luận
giải
Tử
vi
bằng
các
sự
tương
sinh,
tương
khắc
,
tương
hợp
,
tương
phản
,
mang
một
bản
chất
Nhân
Duyên
rất
rõ
nét
:
Cái
này
có,
thì
cái
kia
có;
cái
này
không
có,
thì
cái
kia
không
có;
cái
này
sinh,
thì
cái
kia
sinh,
cái
này
diệt
thì
cái
kia
diệt
.
Hoặc
là
Trùng
trùng
Duyên
Khởi.
hoặc
là
Nhân
sinh
ra
trên
một
Nhân
trước
đã
diệt
.
2.
Bản
chất
Âm
Dương
luận
,
trong
tư
tưởng
Nhất
Nguyên
Lưỡng
Cực
,
nhất
là
Dịch
học
,
cũng
gần
giống
như
Phi
Nhât,
Phi
Nhị
;
Phi
Một
,
Phi
Nhiều
;
Phi
Hữu,
Phi
Vô ;
Trong
Một
chứa
Toàn
Thể
và
Toàn
Thể
chứa
trong
Một
như
Kinh
Hoa
Nghiêm,
Lăng
Nghiêm
,
Pháp
Hoa
,
v….v
.
3.
Bản
chất
Ngũ
Hành
,
tương
tự
như
Tứ
Đại
(Đất
=
Thổ
-
Kim
;
Nước
=
Thủy
;
Lửa
=
Hỏa
;
chỉ
còn
lại
2
thành
tố
chưa
tương
tự
là
Gió
(
Phong
Đại
) và
Mộc
.
Thế
giới
quan
Âm
Dương
&
Ngũ
hành
của
Kinh
Dịch
cho
rằng
Vũ
trụ
kể
cả
con
người
được
tạo
ra
do
sự
tương
sinh,
tương
khắc
của
Âm
Dương
&
Ngũ
Hành
,
xem
con
người
và
ngoại
cảnh
có
cùng
một
tính
chất
hình
thành
,
hợp
nhất
bản
thể
giữa
con
người
và
Vũ
trụ
. Sự
luận
giải
mang
một
tính
chất
dự
đóan
sự
tương
tác
nhau
giữa
con
người
và
ngoại
cảnh
,
khi
dán
nhãn
cho
con
người
1
tính
cách
và
dự
đóan
xem
sự
tương
tác
đó
với
ngoại
cảnh
như
thế
nào
? (
Như
là
cho
một
Giả
Thiết
tiền
đề
và
xét
xem
các
biến
đổi
tương
tác
nhau
,
như
trò
chơi
vi
tính
) Và
các
kết
luận
mang
theo
các
thuộc
tính
cơ
hữu
của
con
người
trong
một
xã
hội
nông
nghiệp,
phong
kiến
kiểu
Trung
Hoa
thời
xa
xưa
.
Xét
theo
nhà
Phật
,
thuộc
tính
cơ
hữu
chính
của
loài
người
là
Tham,
Sân,
Si
và
thuộc
tính
của
xã
hội
xa
xưa
đó ,
như
là
một
Cộng
Nghiệp
lớn,
còn
các
tác
động
dự
đoán
chỉ
là
Biệt
Nghiệp
trong
mọi
vòng
Cộng
Nghiệp
lớn
nhỏ
của
Gia
đình,
thôn
ấp,
làng
xã
và
đất
nước
.
4.
Trung
cung
:
phần
Tiên
Thiên
-
Tại
Trung
Cung
,
con
người
được
phân
hạng
như
sau
a.
Theo
Giới
tính
:
Âm
Dương
Nam
Nữ
Âm
Âm
Nam
Âm
Nữ
Dương
Dương
Nam
Dương
Nữ
Các
nhà
luận
giải
sẽ
căn
cứ
vào
sự
thuận
nghịch
Âm/Dương
và
Nam/Nữ
, mà
phán
đoán
tính
cách
cơ
bản
của
đương
số
như
:
Cứng
rắn
,
Nam
tính
và
Mềm
yếu/Tình
cảm
,
v…v
….
Xét
về
mặt
Tâm
Lý
Cá
Nhân
,
mỗi
cá
nhân
Nam
cũng
như
Nữ ,
đều
có
và
chỉ
có 2
loại
:
sống
theo
Lý
Trí
(
thuộc
tính
Cứng
rắn
,
Dương
) và
Cảm
Tính
(
thuộc
tính
Mềm
, Âm
) mà
thôi
.
Việc
phân
chia
này
chỉ
là
một
bài
toán
xác
xuất
.
b.
Theo
Ngũ
Hành
:
(i.)
Cục
: Có
5
Cục
được
mặc
nhiên
an
bài
theo
sau
Các
Hành
Kim
Mộc
Thủy
Hoả
Thổ
Các
Cục
Tứ
Cục
Tam
Cục
Nhị
Cục
Lục
Cục
Ngũ
Cục
Số
Cục
4
3
2
6
5
Tuổi
Bắt
Đầu
14
13
12
16
15
Đại
Hạn
14-23
13-22
12-21
16-25
15-24
24-23
23-32
22-31
26-35
25-34
34-43-
33-42
32-41
36-45
35-44
44-53
43-52
42-51
46-55
45-54
54-63
53-62
52-62
56-65
55-64
(i.)
Cục
: Có
5
Cục
được
mặc
nhiên
an
bài
theo
sau
:
Sự
bắt
đầu
từ
số 2
đến
số 6
, mà
không
từ
con
số
khác
,
cũng
không
được
giải
thích
.
Tuỳ
theo
số
khởi
đầu,
các
vòng
Đại
hạn
được
ấn
định
cho
10
năm
.
Ngoài
ra ,
các
con
số
này
còn
dùng
để
tính
cân
lượng
của
Mệnh
vào
phần
kế
tiếp
.
Xét
về
mặt
khoa
học
, sự
sắp
xếp
các
dãy
số ở
phần
Cục
,
được
phân
tích
trở
lại,
ta
thấy
gần
giống
như
các
giai
đoạn
phát
triển
Tâm
Sinh
Lý
của
con
người
theo
các
độ
tuổi
:
a.
Trước
12 =
sự
phát
triển
Tâm
sinh
lý
của
những
năm
đầu
đời
b.
12-25
=
lứa
tuổi
bắt
đầu
dậy
thì
đến
trưởng
thành
c.
22-35
hoặc
hẹp
hơn
=
26-35
,
lứa
tuổi
bắt
đầu
bước
vào
đời
lập
thân
d.
32-45
, -nt-
=
36-45
,
lứa
tuổi
tạo
lập
sự
nghiệp
e.
42-55
, -nt-
=
46-55
,
lứa
tuổi
chín
mùi
trong
sự
nghiệp
,
tiến
đến
tuổi
hồi
xuân
..
f.
52-65,
-nt-
=
56-65
,
lứa
tuổi
hồi
xuân
và
chuẩn
bị
về
già
Các
lứa
tuổi
trên
, về
mặt
tâm
sinh
lý ,
đều
nằm
trong
những
giai
đoạn
chuyển
biến
của
sự
tăng
trưởng
sinh
học
với
sự
tham
gia
tư
nhiên
của
các
hormone
sinh
học
, và
làm
chuyển
biến
tâm
lý
theo
5
Giác
quan
cơ
bản
và Ý
thức
của
đương
số .
Những
giai
đoạn
này
cũng
hình
thành
tính
cách
cá
nhân
đã
được
tích
lũy
từ
nhỏ
đến
lớn,
qua
sự
tập
nhiễm
với
gia
đình,
các
cá
nhân
gần
gũi
và
mọi
cộng
đồng
lớn
nhỏ
.
Mặc
khác
,
các
chu
kỳ
thời
gian
trên
cũng
là
các
giai
đoạn
sống
và
hoạt
động
của
đương
số
trong
bối
cảnh
tương
tác
với
xã
hội
, từ
trong
gia
đình
&
học
đường
;
bước
đầu
ra
đời
;
tạo
dựng
sự
nghiệp
và
về
già
.
Đặc
biệt
,
lứa
tuổi
36-55
(
khoảng
2
đại
hạn
) ,
là
khoảng
thời
gian
xảy
ra
rất
nhiều
sự
thành
bại,
đắc
thất
,
vinh
nhục,
thị
phi
của
đương
số ,
các
sự
kiện
này
xảy
ra
với
một
mức
độ
quyết
liệt
hơn,
sâu
sắc
hơn
, do
sự
tiếp
xúc
và
tương
tác
đa
phương
đã
trở
nên
toàn
diện
và ở
cường
độ
cao
. Do
đó,
các
nhà
luận
giải
cũng
dựa
thêm
vào
2 ý
tưởng
là
Thời
và
Vị
của
Kinh
Dịch
để
luận
cho
các
vòng
đại
hạn
này
. “
Thời
hành
tắc
hành;
thời
chỉ
tắc
chỉ
“
Xã
hội
xa
xưa
đó,
nơi
mà
con
người
có
tuổi
thọ
bình
quân
là
50 (
Nhân
sinh
Thất
Thập
cổ
lai
hy )
, và
con
người
phát
triển
cao
độ
vào
tuổi
trước
40 (
Tam
thập
nhi
lập
, Tứ
thập
bất
hoặc
hoặc
30
tuổi
chưa
lập
gia
đình
thì
không
nên
lập
gia
đình
nữa
; 40
tuổi
chưa
ra
làm
quan,
thì
không
nên
làm
quan
nữa
) .
So
sánh
với
cách
sắp
xếp
để
lấy
chu
kỳ
đại
hạn
của
Tử
vi ,
ta
thấy
ngay
,
chỉ
có 3
vòng
đại
hạn
quan
trọng
nhất
.
Cũng
chính
vì
lý
do
này
, sự
an
các
bộ
sao
chính
phụ
cũng
được
tính
toán
để
cho
một
giải
đoán
có
tính
xác
xuất
cao
trong
3
vòng
đại
hạn
này
. Dĩ
nhiên
cũng
có
xác
xuất
đại
hạn
không
lọt
hoàn
toàn
vào
an
sao
chủ
lực
.
1.
Anh
hài,
từ
khi
sanh
đến
6
tuổi.
2.
Đồng
tử:
từ 7
đến
15
tuổi.
3 .Thiếu
niên:
từ
16
đến
30
tuổi.
4.
Thành
niên:
từ
31
đến
40
tuổi.
5.
Lão
niên:
từ
41
đến
chết.
Tóm
lại,
các
giai
đoạn
(
đại
hạn
)
này
chẳng
qua
là
sự
tái
lập
chu
kỳ
Vô
Thường
Thành,
Trụ,
Hoại
,
Không
ở
các
cường
độ
mạnh
yếu
khác
nhau
.
Nếu
chúng
ta
làm
chủ
được
Thân
Tâm
,
theo
triết
lý
Phật
giáo
,
thì
chúng
ta
sẽ
làm
chủ
được
các
mức
độ
này
,
nghĩa
là,
làm
chủ
được
vận
mệnh
. Do
đó,
sự
giải
đóan
theo
giả
thiết
xác
xuất
xảy
ra
với
các
điều
kiện
Tâm
lý
Cá
nhân-
Tâm
lý
Quần
chúng
–
Tâm
lý
Xã
hội
như
trên
, dễ
làm
cho
người
nghe
tin
rằng
Tử
vi
là
có
thể
đúng
.
Ngoài
ra,
trong
vòng
đại
hạn
10
năm
,
tất
cả
những
điều
may
rủi
,
nhân
quả
sinh
ra ,
không
ai
nhớ
hết
.
Cho
đến
khi
luận
giải
gợi
đến
,
các
Thức
thứ
7
được
nhắc
nhở
, sẽ
nhớ
lại
từ
50%
đến
60%
là
đã
có
xảy
ra
thật
!
Cho
nên
có
người
không
tin
bói
toán
nhưng
không
thể
biện
minh
được
trường
hợp
này
,
đành
cho
rằng
, Tử
vi
là
đúng
khoảng
50%
-
60%
,
nhưng
là
………….hậu
nghiệm
! Tự
cổ
chí
kim,
chưa
bao
giờ
Tử
Vi
có
thể
tiền
nghiệm
được
!
Hơn
nữa,
đại
hạn
10
năm
còn
có
thể
có
xác
xuất
cao
,
nhưng
đến
tiểu
hạn
hàng
năm
,
thì
xác
xuất
trùng
hợp
lại
yếu
hơn
nhiều
,
xác
suất
này
chỉ
còn
khoảng
5%
đến
10%
mà
thôi
,
nói
chi
tham
vọng
luận
đoán
từng
ngày
,
từng
giờ
! (như
Độn
quẻ
)
(ii.)
Mệnh
:
Cũng
phân
chia
theo
các
Hành
,
toàn
cảnh
Tử
Vi
chỉ
có
các
Mệnh
dưới
đây
:
Các
Hành
Kim
Mộc
Thuỷ
Hỏa
Thổ
Các
Mệnh
4 4
4 4
4
Một
Hành
có 4
Mệnh
,
sắp
đặt
từ
lớn
đến
nhỏ
, ví
dụ
như
Tích
lịch
hoả,
Sơn
đầu
hỏa
,v…v
Có 5
hành
X 4
Mệnh
,
tất
cả
có
20
Mệnh
.
Mỗi
Mệnh
được
tính
toán
từ
số
của
các
Cục
mà
ra
số
cân
lượng
nặng
nhẹ
(
mấy
chỉ
,
mấy
lượng
)
Sự
tổ
hợp
4
tích
cách
(Âm/Dương)
với
5
Cục
và
với
20
Mệnh
sẽ
cho
ra
mọi
cách
cục
đầu
tiên
của
Trung
Cung
(
phần
Tiên
Thiên
)
Sự
tương
sinh,
tương
khắc
giữa
Cục
và
Mệnh
trên
nền
tảng
Âm
Dương
cũng
được
xét
đến
.
Sự
tương
sinh
tương
khắc
về
mặt
ngũ
hành
giữa
Cục
,
Mệnh
với
các
lá
số
hợp
cách
được
khai
thác
tối
đa ,
để
luận
đóan
Mệnh
lớn
hay
nhỏ,
Mệnh
khắc
tuyệt
đối
hay
tương
đối
,
v….v
Đôi
khi
,
các
nhà
luận
giải
còn
mang
vào
phần
này
lý
thuyết
của
Bát
Tự (
Tử
Bình
)
qua
phân
tích
và
chiết
tự 8
chữ
đại
biểu
cho
Can-Chi
của
Giờ,
Ngày,
Tháng,
Năm
sinh
.
Sự
xác
nhận
bản
Mệnh
ngay
trong
vòng
Trung
Cung
(
Tiên
thiên
)
này
,
xem
như
là
một
yếu
tố
cho
sẵn
từ
vô
thỉ
,
gần
giống
như
Thức
đầu
tiên
của
con
người
khi
tái
sanh
,
được
tập
nhiễm
them
cho
đến
tuổi
đầu
tiên
được
luận
giải
nằm
trong
vòng
Đại
hạn
10
năm
đầu
tiên
(
tuối
12
là
thấp
nhất
–
cao
nhất
là
16 )
.
Theo
Sinh
học
,
mỗi
một
cá
nhân
,
nhận
được
một
vốn
gen
do
cha
mẹ
trao
cho
.
Vốn
gen
này
đồng
thời
tích
lũy
tất
cả
các
quá
trình
phát
triển
cá
thể
(
ontogenesis)
và
quá
trình
phát
triển
giống
loài
(
phylogenesis)
từ
khoảng
3,8
tỷ
năm
về
trước.
Tập
hợp
tất
cả
các
gen-alen
gọi
là
Kiểu
Gen
,
kiểu
gen
qui
định
tất
cả
Tính
trạng
(hình
thái
&
sinh
lý)
của
cơ
thể
(
gọi
là
Kiểu
Hình
, là
cái
ta
có
được
trong
những
hoàn
cảnh
môi
trường
tự
nhiên
& xã
hội
cụ
thể
) .
Do
đó,
Kiểu
gen
qui
định
Kiểu
hình
của
cơ
thể
.
Có
tương
tự
như
thế
không
khi
theo
nhà
Phật
, từ
khi
lọt
lòng,
con
người
đã
mang
theo
một
Thức
Tái
Sanh
( từ
Vô
Minh
Vô
Thỉ
)
tương
hợp
với
Thức
Cha
Mẹ ,
là
một
Cộng
nghiệp
giữa
Nghiệp
lực
riêng
và
Tích
luỹ
Nghiệp
riêng
của
mình
với
Tập
quán
Nghiệp
,
Tích
luỹ
Nghiệp
của
Cha
Mẹ .
Nghiệp
và
Thức
này
lớn
dần
lên
bởi
sự
tập
nhiễm
Nghiệp
và
Thức
của
Cha
Me ,
gia
đình,
học
đường
và
xã
hội
cho
đến
tuổi
giải
đóan
Tử
vi .
Những
sự
kiện
xảy
ra
trong
đời
sống
chẳng
qua
là
Nhân
Quả
được
tạo
tác
ra
theo
Tâm
Thức
hàng
ngày
hàng
giờ
mà
thôi
.
5.
Ngoại
Cung
:
Phần
Hậu
Thiên
– 12
cung
trong
Tử
Vi ,
tương
sinh,
tương
diệt
nhau
tương
tự
giống
như
chuỗi
12
nhân
duyên
,
nhưng
thật
ra ,
không
đầy
đủ .
Tuy
nhiên
, 12
cung
Tử
vi
có
thể
gom
lại
thành
Tâm
và
Vật
;
hoặc
Sắc
và
Tâm
;
hoặc
Sắc,
Thọ
,
Tưởng,
Hành,
Thức
.
a.
Cung
Mệnh
:
như
là
Thức
,
Tưởng
,
Nghiệp
;
b.
Các
Cung
:
Phụ
,
Điền
,
Quan
, Nô
, Di,
Tất,
Tài,
Tử,
Phối,
Bào
như
là
Sắc
,
Thọ
;
c.
Cung
Phúc
như
là
Tác
Ý ,
Hành,
Nghiệp
.
d.
Riêng
cung
Thân
bao
gồm
cả 5
thức
uẩn
.
Cung
Thân
,
được
an
trong
1
trong
12
cung
chánh
,
dùng
để
xét
đoán
vận
mệnh
từ
30
tuổi
trở
lên
đến
già
(
Tam
Thập
nhi
lập)
) .
Phần
Hậu
Thiên
này
, có
thể
xem
như
là
Nghiệp
Tạo
Tác
, là
sự
tạo
Nghiệp
và
Cộng
Nghiệp
của
đương
sự ,
trong
sự
tương
tác
với
bối
cảnh
xã
hội
đương
thời
, số
phận
của
đương
số
chỉ
là
cái
Quả
của
cái
Nhân
đã ,
đang
và
sẽ
gieo
; là
cái
Nghiệp
Báo
của
cái
Nghiệp
đã,
đang
và
sẽ
gieo
.
Nghiệp
làm
không
chánh
thiện,
Làm
rồi
sanh
ăn
năn,
Mặt
nhuốm
lệ,
khóc
than,Lãnh
chịu
quả
dị
thục.(Pháp
Cú
67)
6.
Ngoài
ra,
Tử
vi
đưa
vào
thêm
phần
Luận
giải
lý
thuyết
Hợp
Cách
(
Trợ
Cách
và
Phá
Cách
) ,
nghĩa
là
xét
thêm
lá
số
của
Cha,
Mẹ,
và
người
hôn
phối
và
cả
các
con
(
nếu
có )
.
Như
thế,
có
khác
gì
đâu
các
vòng
Cộng
Nghiệp
? và
Chánh
Báo
, Y
Báo
?
Nhưng
Tử
vi
không
thể
chỉ
đường
cho
người
những
phương
pháp
tu
tập
để
chuyển
Nghiệp
như
Đức
Phật
Đại
Từ
Bi
đã
dạy
chúng
sinh
.
7.
Trong
những
tình
huống
bế
tắc,
các
nhà
luận
giải
thường
dựa
vào
triết
thuyết
Kinh
Dịch
,
với
sự
giải
nghĩa
biến
dịch
trong
1 lá
số
Tử
vi (
Lá
số
xấu
,
luận
giải
tốt
và
ngược
lại
–
Vật
cực
tất
phản
) .
Có
phải
chăng
thấp
thoáng
trong
đó
lẽ
Vô
Thường
? .
Hoặc
dựa
vào
cung
Phúc
, để
giải
thích
những
đều
xấu
không
xảy
ra
hoặc
ngược
lại
,
nhà
luận
giải
còn
dùng
ý
niệm
Trung
và
Chánh
của
Kinh
Dịch
để
lý
giải
thêm
.
Chúng
ta
thấy
lẽ
Nhân
Quả
,
Luân
Hồi
và
Nghiệp
báo
xuất
hiện
ở
đây
8.
Sự
luận
đoán
các
chu
kỳ
Đại
hạn
,
cũng
được
tham
chiếu
thêm
với
nguyên
lý
Dịch
học
,
trong
các
quẻ
Dịch
tương
ứng
với
các
chu
kỳ
độ
tuổi
đại
hạn
đối
chiếu
với
khung
cảnh
xã
hội
.
Cộng
vào
đó
với
phương
hướng
thuận
nghịch
(
theo
Bát
Trạch
–
một
môn
địa
lý
trên
cơ
sở
Dịch
học)
,
càng
làm
cho
việc
luận
giải
càng
thêm
mở
rộng
(maximized
focusing
)
trên
cơ
sở
tâm
lý
thực
nghiệm
thăm
dò .
9.
Các
bộ
ba
Tam
hợp
như
sau
:
a.
Mệnh-Tài-Quan
:
Bản
Mệnh
–
Tiền
tài
và
Danh
vọng
(
Quan
chức
) .
Có
học
(
văn
hay
võ)
;
Chốn
Quan
trường
; Và
Tiền
bạc
.
Sao
gần
giống
luận
cứ
của
Alvin
&
Toffler
về
bộ
ba
quyền
lực
:
Tri
Thức
–
Tiền
tài
–
Quyền
lực
đến
thế
? .
Những
luận
giải
rút
ra
từ
tương
sinh,
tương
khắc
và ý
nghĩa
của
bộ
sao
chính
và
phụ
trong
3
cung
trên
, sẽ
cho
đương
số
một
Vọng
tâm
về
Bản
Ngã
và
Tiền
Tài
,
Quyền
lực
(Tham
Sân
Si)
. Sự
quay
cuồng
đến
chóng
mặt
của
Ngã
và
Ngã
Sở
như
thế
,
làm
sao
không
tạo
ra
sinh
tử
luân
hồi
bất
tận
?
b.
Phụ
- Tử
- Nô
:
Cha
mẹ -
Con
cái
– Nô
bộc
:
quần
thể
cộng
nghiệp
nhỏ
bé
này
trong
tổ
chức
đại
gia
đình
Trung
quốc
thời
phong
kiến
nông
nô
xa
xưa
, là
tế
bào
xây
dựng
nên
xã
hội
Trung
quốc
.
Cũng
như
trên,
luận
giải
sẽ
tạo
cho
đương
số
một
Ngã
Sở ,
một
Vọng
Tâm
khác
về
Thủ
và
Hữu
,
đẩy
cái
Chấp
Thủ
và
Chấp
Hữu
lên
cực
cao
. Sự
mê
cuồng
của
Ngã
Sở (Thủ
,
Hữu)
đến
như
thế
,
làm
sao
đưa
con
người
ta
ra
khỏi
niềm
đau
nỗi
khổ
cho
được
?
c.
Phúc-
Di –
Phối
:
Phúc
Đức
– Xã
hội
–
Hôn
nhân
:
Khía
cạnh
nhân
quả
của
sự
tương
tác
,
tập
nhiễm
giữa
Cá
nhân
và
xã
hội
.
Luận
giải
phần
này
ngoài
nguyên
tắc
tương
sinh,
tương
khắc
âm
dương
ngũ
hành
và
tính
cách
các
bộ
sao
chính
phụ,
nhiều
khi
các
nhà
luận
giải
còn
mang
vào
đây
một
số
yếu
tố
khác
từ
Kinh
Dịch
(
trong
việc
tương
tác
với
xã
hội
) và
yếu
tố
Nghiệp
Báo
(
trong
việc
xem
xét
cung
Phúc
) .
Tạo
cho
đương
số
một
Vọng
tâm
khác
về
Ái
Dục
.
Tuy
nhiên
,
điều
tích
cực
của
Tử
Vi
là
khuyên
người
ta
nên
tạo
Phúc
, để
hạn
chế
cái
Vọng
tâm
về
Tiền
Tài,
Quyền
lực,
Khát
Ái .
d.
Điền
–
Tật
–
Bào
:
Đất
đai
–
Tật
Ách
–
Anh
em :
đây
là
một
mối
quan
hệ
trong
sản
xuất
nông
nghiệp
xa
xưa
.
Mối
quan
hệ
này
sẽ
sinh
ra
mọi
điều
tốt
hay
xấu
, mà
cung
Tật
ách
sẽ
luận
giảng
.
Đây
là
những
vòng
Cộng
nghiệp
nhỏ
trong
Gia
đình
,
nơi
mà
Nhân
Quả
của
đã
chứa
sẵn
từ
Tổ
tiên
vật
chất
và
tâm
linh
.
10.
Phần
Xung
chíếu
: là
hai
cung
đối
xứng
chéo
nhau
.
Trên
nguyên
tắc
, là
có 6
cặp
xung
chiếu
nhau
,
nhưng
trên
thực
tế ,
nhà
luận
giải
chỉ
xem
cung
Mệnh
và
Di ,
và
cung
Thân
(
nếu
có)
với
xung
chiếu
của
nó .
Tuy
nhiên
,
việc
an
các
bộ
sao
trong
các
cung
cũng
được
tính
toán
cho
tính
cách
Tam
hợp
, vì
thế
,
thật
ra
chỉ
còn
2 bộ
xung
chiếu
:
a.
Mệnh,
Tài,
Quan
Xung
chiếu
với
Di,
Phúc,
Phối
: ta
nhìn
lại
đoạn
trên
sẽ
dễ
nhận
thấy
bản
chất
của
cách
giải
đoán
thấp
thoáng
trong
đó
rồi
!
b.
Phụ
, Tử
, Nô
xung
với
Tật,
Điền,
Bào
: 2
bộ
xung
chiếu
này
còn
nói
lên
rõ
nét
hơn
về
bản
chất
của
việc
luận
giải
!
11.
Phần
Tiền
Hậu
: đó
là 2
cung
trước
và
sau
của
cung
được
xét
luận
giải
. Và
thường,
cũng
chỉ
xét
Tiền
Hậu
của
cung
Mệnh
và
cung
Thân
(
nếu
có )
.
Cũng
như
trên
, do
Xung
chiếu
và
Tam
hợp,
nên
cũng
chỉ
có 2
bộ
cung
tiền
hậu
mà
thôi
Chỉ
riêng
2
chữ
Tiền
Hậu
,
cũng
đã
nói
lên
ý
nghĩa
của
việc
giải
đóan
rồi
!
Như
vậy,
xét
về
luận
giải
các
cung
,
thì
thật
ra ,
chỉ
là
sự
xem
xét
toàn
cảnh
việc
tương
tác
giữa
Cá
Nhân
–
Gia
Đình
– Xã
hội
đóng
khung
trong
12
hoàn
cảnh
xã
hội
Trung
Quốc
mà
thôi
.
Đây
chỉ
là
một
trò
chơi
thăm
dò
tâm
lý
cá
nhân
mà
thôi
.
Một
trò
Trắc
nghiệm
Tâm
lý
được
trừu
tượng
hoá
.
12.
Một
số
nhà
luận
giải
,
không
muốn
sai
lầm
nhiều,
thường
sử
dụng
thêm
lý
thuyết
Tướng
Mệnh
học
(
Tướng
tuỳ
Tâm
sinh,
Tâm
cũng
tuỳ
Tướng
sinh
) để
xem
tướng
kết
hợp
với
Tử
vi .
Xét
về
mặt
khoa
học,
các
dân
tộc
khác
nhau
, có
hình
thái
khác
nhau
( di
truyền
hình
thái
) và
số
liệu
nhân
trắc
khác
nhau
.
Tướng
mệnh
học
đã
lâm
vào
ngõ
cụt
. Có
lẽ
chỉ
sử
dụng
cho
người
thuộc
chủng
Trung
quốc
.
Ngoài
ra ,
các
nhà
luận
giải
sẽ
làm
sao
với
những
người
đang
nhiếp
các
Oai
nghi
?
Cũng
như
thế,
một
số
nhà
luận
giải
cũng
tham
khảo
thêm
cả
Chỉ
tay
.
Nhưng
cũng
như
trên
,
nhân
trắc
khác
nhau
làm
sao
áp
dụng
?
Trái
với
Chỉ
tay
,
Kiểu
Vân
Tay
cũng
là
một
đặc
trưng
cho
Kiểu
Gen
, mà
các
nhà
Hình
Pháp
Học
đã
áp
dụng
.
Điều
này
đã
nói
lên
sự
võ
đoán
của
Chỉ
Tay
.
Cuối
cùng
,
xét
theo
Tâm
lý
học
Phật
giáo
,
các
dân
tộc
khác
trên
thế
giới,
có
các
nền
văn
minh
khác
nhau
, tổ
chức
xã
hội
khác
nhau
,
thì
Tử
vi
sẽ
không
thể
nào
giải
đoán
được
nữa
. Do
Tâm
và
Thức
sinh
hoạt
khác
nhau
, sẽ
tạo
tác
ra
xã
hội
khác
nhau
.
13.
Mặt
khác
,
phân
tích
12
cung
Tử
vi
qua
quan
điểm
Triết
học
Phật
giáo
, ta
thấy
gần
như
sau
:
Theo
Tử
Vi
Theo
Nghiệp
Quả
Theo
Lục
Dục
•
Mệnh
(
Thân
) ,
Tài
,
Quan
Mệnh
và
Nghiệp,
Tư
Duy
Tham,
Ái ,
Chấp
Ngã
|