Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tử vi & Phong thủy

Mục lục

Tử vi Tây Phương:

 

Tử vi Á Đông:

Luận - Học - Thuật số - Tử vi:

Bảng tra cần thiết:

Tử bình:

 

Tử vi & Phong thủy - Phụ trách TN. 8/2010.

"Tử vi kim chỉ nam HÀNH ĐỘNG, giúp con người. Cần gặp Thầy giỏi có thực học."
Phong Thủy Tử Vi Gia Thiên Phúc

====

Theo Sinh học , mỗi một cá nhân , nhận được một vốn gen do cha mẹ trao cho . Vốn gen này đồng thời tích lũy tất cả các quá trình phát triển cá thể ( ontogenesis) và quá trình phát triển giống loài ( phylogenesis) từ khoảng 3,8 tỷ năm về trước. Tập hợp tất cả các gen-alen gọi là Kiểu Gen , kiểu gen qui định tất cả Tính trạng (hình thái & sinh lý) của cơ thể ( gọi là Kiểu Hình , là cái ta có được trong những hoàn cảnh môi trường tự nhiên & xã hội cụ thể ) . Do đó, Kiểu gen qui định Kiểu hình của cơ thể .

Có tương tự như thế không khi theo nhà Phật , từ khi lọt lòng, con người đã mang theo một Thức Tái Sanh ( từ Vô Minh Vô Thỉ ) tương hợp với Thức Cha Mẹ , là một Cộng nghiệp giữa Nghiệp lực riêng và Tích luỹ Nghiệp riêng của mình với Tập quán Nghiệp , Tích luỹ Nghiệp của Cha Mẹ . Nghiệp và Thức này lớn dần lên bởi sự tập nhiễm Nghiệp và Thức của Cha Me , gia đình, học đường và xã hội cho đến tuổi giải đóan Tử vi . Những sự kiện xảy ra trong đời sống chẳng qua là Nhân Quả được tạo tác ra theo Tâm Thức hàng ngày hàng giờ mà thôi .

 

Tử vi và Tâm Lý Học Phật Giáo

(Tâm Nhẫn)

====

Số mệnh có mà không , không mà có !

Số mệnh không khác Không , Không cũng không khác Số mệnh !

====

 

Trong Lịch sử văn minh nhân loại , loài người là một sinh vật duy nhất luôn luôn đặt ra cho mình câu
hỏi đầy ray rứt :



• Ta từ đâu đến ?

• Tại sao ta đến chốn này ?

• Ta sống để làm gì ?

• Và Ta sẽ ra sao ?



Các câu hỏi này đã theo chân loài người từ buổi bình minh của nhân loại đến muôn đời sau nữa . Trong kho tàng văn minh cổ của loài người , có nhiều thuyết để trả lời một phần các câu hỏi trên ,trong đó, văn minh Trung Quốc đã cho người Trung quốc một luận thuyết Tử Vi nổi tiếng , để trả lời một cách gián tiếp cho các câu hỏi trên thông qua sự giải đoán vận mệnh con người .Các nhà luận giải Tử Vi còn có tham vọng giải đoán đến cả quá khứ xa xưa của tổ tiên nữa , và có thể cả cho ngày sau , đến cả hậu duệ sau này nữa !



Nguyên lý Tử Vi .-



Chúng ta điểm qua một số lý luận chính của Tử Vi , trên cơ sở phân tích Tâm lý-Xã hội học và Tâm Lý học Phật giáo , để tìm nguyên ủy bản chất của việc giải đoán Vận mệnh con người .



1. Nền tảng của Tử vi xuất pháp từ triết học Kinh Dịch với nguyên lý Nhất Nguyên Lưỡng Cực và sự chuyển dịch, đổi thay của vạn vật tượng trưng qua 64 quẻ Dịch . Sự luận đoán dựa vào sự tương hợp, tương phản của thuyết Âm Dương ; sự tương sinh, tương khắc của Ngũ hành ; và lý luận “dịch” này của Kinh Dịch .



2. Tính cách chính của người có lá số Tử vi là tính cách kết hợp của các Bộ Sao . Trong đó , bộ sao chính ( sao chủ Mệnh hoặc/và Sao chủ Thân ) , là tính cách cơ bản , và các sao phụ ( sao tham chiếu ) là tính cách bổ sung .



3. Sự luận đóan được cho là Nguyên thuỷ , là từ Tiên sinh Trần Đoàn , qua quyển Tử Vi Đẩu số Toàn thư . Càng về sau, các nhà luận giải càng đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của các thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong bối cảnh của Lá số Tử vi . Do vậy, các luận giải thường mang theo cả những cảm nghĩ và kinh nghiệm chủ quan của người luận giải . nên phát sinh ra khá nhiều trường phái Tử Vi giải đóan . Cho nên không lấy gì lạ nếu , trong cùng 1 lá số, có nhiều luận giải tương phản nhau . Cái nào đúng ? Cái nào sai ? và đâu là nguyên nhân ?



4. Lá số Tử vi bao gồm nhiều thành phần :



a.) Phần Trung Cung , có khi gọi là Phần Tiên Thiên : gồm các yếu tố :



(i.) Giờ sinh : ngày đêm được chia thành 12 giờ ( so với giờ hiện đại , mỗi giờ Trungquốc bằng 2 giờ Tây phương ) , được qui chiếu vào Can Chi . Và ngày xưa không cóphạm trù múi giờ, nên các nhà luận giải ngày nay đưa thêm vào đó, hệ qui chiếu giờcho các múi giờ kinh tuyến khác nhau ( bằng kinh tuyến Greenwich ) .



(ii.) Ngày sinh : được căn cứ vào tuần trăng Âm lịch, có sự hiệu chỉnh của Dương lịch cho các mốc Thiên văn : Xuân & Thu phân , Đông & Hạ chí . Và được qui chiếu thành Can & Chi .



(iii.) Tháng sinh : thường thì vẫn dùng 12 tháng cho 12 con giáp với sự qui chiếu với 10 can . Tuy nhiên, vì Âm lịch có hiệu chỉnh, nên việc nhuần thêm tháng sẽ làm một số năm có ngày tháng trùng hợp .



(iv). Năm sinh : do 12 chi và 10 can, nên tổ hợp này lập thành một quyển lịch 60 năm , được sử dụng từ thời thượng cổ đến ngày nay .



Do Giờ, Ngày, tháng, năm được qui chiếu thành 10 Can và 12 Chi . Mỗi Can , Chi đều có tính Âm Dương và Ngũ Hành . Việc gán cho Can , Chi của Giờ, Ngày, Tháng, Năm cũng không được giải thích vì sao phải như thế ? và khi nào là ngày bắt đầu ? Mọi việc phải được mặc nhiên chấp nhận , như là một giả thiết của khoa học ngày nay .



Căn cứ vào nguyên tắc này , mỗi ngày , có 12 lá số , một năm bình quân có 365 ngày , sẽ có 4.380 lá ; một vòng chu thiên 60 năm , sẽ có 60 X 4380 lá số + 180 lá ( do có thêm 12 ngày nhuận ) . Tổng cộng toàn thể nhân loại được qui đinh trong khoảng 262.980 lá số .



Chúng ta lưu ý : Tử Vi chỉ dựa vào giờ ( tức là Kinh Độ địa lý ) , mà không đề cập đến Vĩ Độ địa lý . Trong khi sự phân bổ Sinh Quyển, các hệ thống sinh thái thay đổi mãnh liệt theo Vĩ Độ địa lý và Cao độ địa hình . Có lẽ, tiên sinh Trần Đòan chỉ luận Tử vi chỉ cho ngườI Trung Quốc ở tại vùng đồng bằng Trung Nguyên mà thôi .



b. Phần Ngoại cung , cũng được gọi là Hậu Thiên , gồm có 12 cung , bao gồm :



(i.) Những bộ Tam Hợp : có 4 bộ X 3 cung

(ii.) Có 6 bộ Xung chiếu = 6 x 2 cung

(iii.) Có 12 bộ Nhị hợp ( còn gọi là Tiền Hậu )



Tất cả các cung đều phải có tính Âm Dương và Ngũ Hành , và phương hướng địa lý theo Hậu Thiên Bát Quái ( Kinh Dịch – và vì sao không sử dụng phương hướng trong Tiên Thiên ? ) nên cũng được gán cho các Hành tương đương . Ví dụ : phương Tây của Trung quốc ( Đoài cung ) thuộc hành Hoả là vậy .



Phần ngoại cung này, biểu hiện rõ nét đặc thù của một xã hội phong kiến nông nghiệp Trung Quốc ngày xưa , qua các thành phần cấu tạo nên xã hội này như :



• Gia đình : các cung Mệnh\ ( Thân ) , Phụ Mẫu , Phúc Đức , Tật Ách ( về Bệnh) , Tử , Phối ngẫu , Huynh Đệ .

• Xã hội : các cung Quan lộc ( giai cấp Sĩ , Binh ) , Nô bộc, Thiên Di , Tật Ách ( về Hình )

• Kinh tế : các cung Điền trạch ( giai cấp Nông ) , Tài Bạch ( Giai cấp Công và Thương ) .

Do vậy, trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay, sự phân chia các Cung như trên có lẽ không còn hợp thời nữa .



c. Phần an sao trong các cung : Các bộ sao chính :



(i.) Tử Phủ Vũ Tướng

(ii). Âm Dương

(iii). Cơ Nguyệt Đồng Lương

(iv.) Sát Phá Tham Liêm



Bốn bộ sao này còn tạo thành các cục dưới bộ sao , do thiếu hoặc thêm một hoặc vài sao trong cùng một bộ hoặc khác bộ sao . Sự giải đoán Tử vi dựa chính yếu vào các Cục Cách an sao này. Còn các chi tiết diễn giải rộng ra , thì tham chiếu thêm các phần Trung Cung, Ngoại Cung , và tiến xa hơn nữa, phối hợp với các Sao & Cung khác trong các lá số của Tứ Thân Phụ Mẫu ( Hợp Cách) .



Các bộ sao này đại diện cho các tính cách cá nhân qua các nghề nghiệp chính trong xã hội thời xa xưa như : Sĩ , Nông , Công , Thương , Binh đồng thời cũng phản ánh những giai cấp chính trong cơ cấu xã hội đó ( Vua , Quan văn võ ) ; giai cấp chủ (điền chủ, Công chủ và Thương chủ ) và cuối cùng là dân dã , nông nô , nô lệ .



d. Cuối cùng , còn các sao tham chiếu khác , dùng để bổ sung các tính cách phụ cho các bộ sao chính . Nguyên thủy tất cả có 108 sao , càng về sau, các nhà luận giải thêm vào một số sao khác để minh hoạ trường phái luận giải của mình, cho đến ngày nay tất cả gồm hơn 120- 128 sao . Và dĩ nhiên , tất cả các sao đều phải có tính Âm Dương và Ngũ Hành . Có lẽ các nhà luận giải thấy bế tắc trong một số tình huống kinh tế xã hội phát sinh về sau , nên thêm vào để có thêm các yêu tố mới để cập nhật phần luận giải



e. Do đó, tổng hợp từ Trung cung đến Ngoại cung và các sao , chúng ta thấy 1 rừng tương sinh, tương khắc, tương hợp, tương phản , làm cho sự luận giải trở nên vô cùng “mờ mịt “



Sự luận giải của Tử Vi :



1. Luận giải Tử vi bằng các sự tương sinh, tương khắc , tương hợp , tương phản , mang một bản chất Nhân Duyên rất rõ nét : Cái này có, thì cái kia có; cái này không có, thì cái kia không có; cái này sinh, thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt . Hoặc là Trùng trùng Duyên Khởi. hoặc là Nhân sinh ra trên một Nhân trước đã diệt .



2. Bản chất Âm Dương luận , trong tư tưởng Nhất Nguyên Lưỡng Cực , nhất là Dịch học , cũng gần giống như Phi Nhât, Phi Nhị ; Phi Một , Phi Nhiều ; Phi Hữu, Phi Vô ; Trong Một chứa Toàn Thể và Toàn Thể chứa trong Một như Kinh Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm , Pháp Hoa , v….v .



3. Bản chất Ngũ Hành , tương tự như Tứ Đại (Đất = Thổ - Kim ; Nước = Thủy ; Lửa = Hỏa ; chỉ còn lại 2 thành tố chưa tương tự là Gió ( Phong Đại ) và Mộc .

Thế giới quan Âm Dương & Ngũ hành của Kinh Dịch cho rằng Vũ trụ kể cả con người được tạo ra do sự tương sinh, tương khắc của Âm Dương & Ngũ Hành , xem con người và ngoại cảnh có cùng một tính chất hình thành , hợp nhất bản thể giữa con người và Vũ trụ . Sự luận giải mang một tính chất dự đóan sự tương tác nhau giữa con người và ngoại cảnh , khi dán nhãn cho con người 1 tính cách và dự đóan xem sự tương tác đó với ngoại cảnh như thế nào ? ( Như là cho một Giả Thiết tiền đề và xét xem các biến đổi tương tác nhau , như trò chơi vi tính ) Và các kết luận mang theo các

thuộc tính cơ hữu của con người trong một xã hội nông nghiệp, phong kiến kiểu Trung Hoa thời xa xưa . Xét theo nhà Phật , thuộc tính cơ hữu chính của loài người là Tham, Sân, Si và thuộc tính của xã hội xa xưa đó , như là một Cộng Nghiệp lớn, còn các tác động dự đoán chỉ là Biệt Nghiệp trong mọi vòng Cộng Nghiệp lớn nhỏ của Gia đình, thôn ấp, làng xã và đất nước .



4. Trung cung : phần Tiên Thiên - Tại Trung Cung , con người được phân hạng như sau



a. Theo Giới tính :

Âm Dương
Nam
Nữ

Âm
Âm Nam
Âm Nữ

Dương
Dương Nam
Dương Nữ






Các nhà luận giải sẽ căn cứ vào sự thuận nghịch Âm/Dương và Nam/Nữ , mà phán đoán tính cách cơ bản của đương số như : Cứng rắn , Nam tính và Mềm yếu/Tình cảm , v…v ….

Xét về mặt Tâm Lý Cá Nhân , mỗi cá nhân Nam cũng như Nữ , đều có và chỉ có 2 loại :

sống theo Lý Trí ( thuộc tính Cứng rắn , Dương ) và Cảm Tính ( thuộc tính Mềm , Âm ) mà thôi . Việc phân chia này chỉ là một bài toán xác xuất .



b. Theo Ngũ Hành :



(i.) Cục : Có 5 Cục được mặc nhiên an bài theo sau



Các Hành
Kim
Mộc
Thủy
Hoả
Thổ

Các Cục
Tứ Cục
Tam Cục
Nhị Cục
Lục Cục
Ngũ Cục

Số Cục
4
3
2
6
5

Tuổi Bắt Đầu
14
13
12
16
15

Đại Hạn
14-23
13-22
12-21
16-25
15-24


24-23
23-32
22-31
26-35
25-34


34-43-
33-42
32-41
36-45
35-44


44-53
43-52
42-51
46-55
45-54


54-63
53-62
52-62
56-65
55-64




(i.) Cục : Có 5 Cục được mặc nhiên an bài theo sau :





Sự bắt đầu từ số 2 đến số 6 , mà không từ con số khác , cũng không được giải thích . Tuỳ theo số khởi đầu, các vòng Đại hạn được ấn định cho 10 năm . Ngoài ra , các con số này còn dùng để tính cân lượng của Mệnh vào phần kế tiếp .



Xét về mặt khoa học , sự sắp xếp các dãy số ở phần Cục , được phân tích trở lại, ta thấy gần giống như các giai đoạn phát triển Tâm Sinh Lý của con người theo các độ tuổi :



a. Trước 12 = sự phát triển Tâm sinh lý của những năm đầu đời

b. 12-25 = lứa tuổi bắt đầu dậy thì đến trưởng thành

c. 22-35 hoặc hẹp hơn = 26-35 , lứa tuổi bắt đầu bước vào đời lập thân

d. 32-45 , -nt- = 36-45 , lứa tuổi tạo lập sự nghiệp

e. 42-55 , -nt- = 46-55 , lứa tuổi chín mùi trong sự nghiệp , tiến đến tuổi hồi xuân ..

f. 52-65, -nt- = 56-65 , lứa tuổi hồi xuân và chuẩn bị về già



Các lứa tuổi trên , về mặt tâm sinh lý , đều nằm trong những giai đoạn chuyển biến của sự tăng trưởng sinh học với sự tham gia tư nhiên của các hormone sinh học , và làm chuyển biến tâm lý theo 5 Giác quan cơ bản và Ý thức của đương số . Những giai đoạn này cũng hình thành tính cách cá nhân đã được tích lũy từ nhỏ đến lớn, qua sự tập nhiễm với gia đình, các cá nhân gần gũi và mọi cộng đồng lớn nhỏ .



Mặc khác , các chu kỳ thời gian trên cũng là các giai đoạn sống và hoạt động của đương số trong bối cảnh tương tác với xã hội , từ trong gia đình & học đường ; bước đầu ra đời ; tạo dựng sự nghiệp và về già . Đặc biệt , lứa tuổi 36-55 ( khoảng 2 đại hạn ) , là khoảng thời gian xảy ra rất nhiều sự thành bại, đắc thất , vinh nhục, thị phi của đương số , các sự kiện này xảy ra với một mức độ quyết liệt hơn, sâu sắc hơn , do sự tiếp xúc và tương tác đa phương đã trở nên toàn diện và ở cường độ cao . Do đó, các nhà luận giải cũng dựa thêm vào 2 ý tưởng là Thời và Vị của Kinh Dịch để luận cho các vòng đại hạn này . “ Thời hành tắc hành; thời chỉ tắc chỉ “



Xã hội xa xưa đó, nơi mà con người có tuổi thọ bình quân là 50 ( Nhân sinh Thất Thập cổ lai hy ) , và con người phát triển cao độ vào tuổi trước 40 ( Tam thập nhi lập , Tứ thập bất hoặc hoặc 30 tuổi chưa lập gia đình thì không nên lập gia đình nữa ; 40 tuổi chưa ra làm quan, thì không nên làm quan nữa ) . So sánh với cách sắp xếp để lấy chu kỳ đại hạn của Tử vi , ta thấy ngay , chỉ có 3 vòng đại hạn quan trọng nhất .



Cũng chính vì lý do này , sự an các bộ sao chính phụ cũng được tính toán để cho một giải đoán có tính xác xuất cao trong 3 vòng đại hạn này . Dĩ nhiên cũng có xác xuất đại hạn không lọt hoàn toàn vào an sao chủ lực .



1. Anh hài, từ khi sanh đến 6 tuổi.

2. Đồng tử: từ 7 đến 15 tuổi.

3 .Thiếu niên: từ 16 đến 30 tuổi.

4. Thành niên: từ 31 đến 40 tuổi.

5. Lão niên: từ 41 đến chết.



Tóm lại, các giai đoạn ( đại hạn ) này chẳng qua là sự tái lập chu kỳ Vô Thường Thành, Trụ, Hoại , Không ở các cường độ mạnh yếu khác nhau . Nếu chúng ta làm chủ được Thân Tâm , theo triết lý Phật giáo , thì chúng ta sẽ làm chủ được các mức độ này , nghĩa là, làm chủ được vận mệnh . Do đó, sự giải đóan theo giả thiết xác xuất xảy ra với các điều kiện Tâm lý Cá nhân- Tâm lý Quần chúng – Tâm lý Xã hội như trên , dễ làm cho người nghe tin rằng Tử vi là có thể đúng . Ngoài ra, trong vòng đại hạn 10 năm , tất cả những điều may rủi , nhân quả sinh ra , không ai nhớ hết . Cho đến khi luận giải gợi đến , các Thức thứ 7 được nhắc nhở , sẽ nhớ lại từ 50% đến 60% là đã có xảy ra thật ! Cho nên có người không tin bói toán nhưng không thể biện minh được trường hợp này , đành cho rằng , Tử vi là đúng khoảng 50% - 60% , nhưng là ………….hậu nghiệm ! Tự cổ chí kim, chưa bao giờ Tử Vi có thể tiền nghiệm được ! Hơn nữa, đại hạn 10 năm còn có thể có xác xuất cao , nhưng đến tiểu hạn hàng năm , thì xác xuất trùng hợp lại yếu hơn nhiều , xác suất này chỉ còn khoảng 5% đến 10% mà thôi , nói chi tham vọng luận đoán từng ngày , từng giờ ! (như Độn quẻ )



(ii.) Mệnh : Cũng phân chia theo các Hành , toàn cảnh Tử Vi chỉ có các Mệnh dưới đây :



Các Hành Kim Mộc Thuỷ Hỏa Thổ

Các Mệnh 4 4 4 4 4



Một Hành có 4 Mệnh , sắp đặt từ lớn đến nhỏ , ví dụ như Tích lịch hoả, Sơn đầu hỏa ,v…v

Có 5 hành X 4 Mệnh , tất cả có 20 Mệnh . Mỗi Mệnh được tính toán từ số của các Cục mà ra số cân lượng nặng nhẹ ( mấy chỉ , mấy lượng )

Sự tổ hợp 4 tích cách (Âm/Dương) với 5 Cục và với 20 Mệnh sẽ cho ra mọi cách cục đầu tiên của Trung Cung ( phần Tiên Thiên )

Sự tương sinh, tương khắc giữa Cục và Mệnh trên nền tảng Âm Dương cũng được xét đến .

Sự tương sinh tương khắc về mặt ngũ hành giữa Cục , Mệnh với các lá số hợp cách được khai thác tối đa , để luận đóan Mệnh lớn hay nhỏ, Mệnh khắc tuyệt đối hay tương đối , v….v

Đôi khi , các nhà luận giải còn mang vào phần này lý thuyết của Bát Tự ( Tử Bình ) qua phân tích và chiết tự 8 chữ đại biểu cho Can-Chi của Giờ, Ngày, Tháng, Năm sinh .



Sự xác nhận bản Mệnh ngay trong vòng Trung Cung ( Tiên thiên ) này , xem như là một yếu tố cho sẵn từ vô thỉ , gần giống như Thức đầu tiên của con người khi tái sanh , được tập nhiễm them cho đến tuổi đầu tiên được luận giải nằm trong vòng Đại hạn 10 năm đầu tiên ( tuối 12 là thấp nhất – cao nhất là 16 ) .



Theo Sinh học , mỗi một cá nhân , nhận được một vốn gen do cha mẹ trao cho . Vốn gen này đồng thời tích lũy tất cả các quá trình phát triển cá thể ( ontogenesis) và quá trình phát triển giống loài ( phylogenesis) từ khoảng 3,8 tỷ năm về trước. Tập hợp tất cả các gen-alen gọi là Kiểu Gen , kiểu gen qui định tất cả Tính trạng (hình thái & sinh lý) của cơ thể ( gọi là Kiểu Hình , là cái ta có được trong những hoàn cảnh môi trường tự nhiên & xã hội cụ thể ) . Do đó, Kiểu gen qui định Kiểu hình của cơ thể .



Có tương tự như thế không khi theo nhà Phật , từ khi lọt lòng, con người đã mang theo một Thức Tái Sanh ( từ Vô Minh Vô Thỉ ) tương hợp với Thức Cha Mẹ , là một Cộng nghiệp giữa Nghiệp lực riêng và Tích luỹ Nghiệp riêng của mình với Tập quán Nghiệp , Tích luỹ Nghiệp của Cha Mẹ . Nghiệp và Thức này lớn dần lên bởi sự tập nhiễm Nghiệp và Thức của Cha Me , gia đình, học đường và xã hội cho đến tuổi giải đóan Tử vi . Những sự kiện xảy ra trong đời sống chẳng qua là Nhân Quả được tạo tác ra theo Tâm Thức hàng ngày hàng giờ mà thôi .




5. Ngoại Cung : Phần Hậu Thiên – 12 cung trong Tử Vi , tương sinh, tương diệt nhau tương tự giống như chuỗi 12 nhân duyên , nhưng thật ra , không đầy đủ . Tuy nhiên , 12 cung Tử vi có thể gom lại thành Tâm và Vật ; hoặc Sắc và Tâm ; hoặc Sắc, Thọ , Tưởng, Hành, Thức .

a. Cung Mệnh : như là Thức , Tưởng , Nghiệp ;

b. Các Cung : Phụ , Điền , Quan , Nô , Di, Tất, Tài, Tử, Phối, Bào như là Sắc , Thọ ;

c. Cung Phúc như là Tác Ý , Hành, Nghiệp .

d. Riêng cung Thân bao gồm cả 5 thức uẩn . Cung Thân , được an trong 1 trong 12 cung chánh , dùng để xét đoán vận mệnh từ 30 tuổi trở lên đến già ( Tam Thập nhi lập) ) .

Phần Hậu Thiên này , có thể xem như là Nghiệp Tạo Tác , là sự tạo Nghiệp và Cộng Nghiệp của đương sự , trong sự tương tác với bối cảnh xã hội đương thời , số phận của đương số chỉ là cái Quả của cái Nhân đã , đang và sẽ gieo ; là cái Nghiệp Báo của cái Nghiệp đã, đang và sẽ gieo

.

Nghiệp làm không chánh thiện, Làm rồi sanh ăn năn,

Mặt nhuốm lệ, khóc than,Lãnh chịu quả dị thục.(Pháp Cú 67)



6. Ngoài ra, Tử vi đưa vào thêm phần Luận giải lý thuyết Hợp Cách ( Trợ Cách và Phá Cách ) , nghĩa là xét thêm lá số của Cha, Mẹ, và người hôn phối và cả các con ( nếu có ) . Như thế, có khác gì đâu các vòng Cộng Nghiệp ? và Chánh Báo , Y Báo ? Nhưng Tử vi không thể chỉ đường cho người những phương pháp tu tập để chuyển Nghiệp như Đức Phật Đại Từ Bi đã dạy chúng sinh .



7. Trong những tình huống bế tắc, các nhà luận giải thường dựa vào triết thuyết Kinh Dịch , với sự giải nghĩa biến dịch trong 1 lá số Tử vi ( Lá số xấu , luận giải tốt và ngược lại – Vật cực tất phản ) . Có phải chăng thấp thoáng trong đó lẽ Vô Thường ? . Hoặc dựa vào cung Phúc , để giải thích những đều xấu không xảy ra hoặc ngược lại , nhà luận giải còn dùng ý niệm Trung và Chánh của Kinh Dịch để lý giải thêm . Chúng ta thấy lẽ Nhân Quả , Luân Hồi và Nghiệp báo xuất hiện ở đây



8. Sự luận đoán các chu kỳ Đại hạn , cũng được tham chiếu thêm với nguyên lý Dịch học , trong các quẻ Dịch tương ứng với các chu kỳ độ tuổi đại hạn đối chiếu với khung cảnh xã hội . Cộng vào đó với phương hướng thuận nghịch ( theo Bát Trạch – một môn địa lý trên cơ sở Dịch học) , càng làm cho việc luận giải càng thêm mở rộng (maximized focusing ) trên cơ sở tâm lý thực nghiệm thăm dò .



9. Các bộ ba Tam hợp như sau :



a. Mệnh-Tài-Quan : Bản Mệnh – Tiền tài và Danh vọng ( Quan chức ) . Có học ( văn hay võ) ; Chốn Quan trường ; Và Tiền bạc . Sao gần giống luận cứ của Alvin & Toffler về bộ ba quyền lực : Tri Thức – Tiền tài – Quyền lực đến thế ? . Những luận giải rút ra từ tương sinh, tương khắc và ý nghĩa của bộ sao chính và phụ trong 3 cung trên , sẽ cho đương số một Vọng tâm về Bản Ngã và Tiền Tài , Quyền lực (Tham Sân Si) . Sự quay cuồng đến chóng mặt của Ngã và Ngã Sở như thế , làm sao không tạo ra sinh tử luân hồi bất tận ?



b. Phụ - Tử - Nô : Cha mẹ - Con cái – Nô bộc : quần thể cộng nghiệp nhỏ bé này trong tổ chức đại gia đình Trung quốc thời phong kiến nông nô xa xưa , là tế bào xây dựng nên xã hội Trung quốc . Cũng như trên, luận giải sẽ tạo cho đương số một Ngã Sở , một Vọng Tâm khác về Thủ và Hữu , đẩy cái Chấp Thủ và Chấp Hữu lên cực cao . Sự mê cuồng của Ngã Sở (Thủ , Hữu) đến như thế , làm sao đưa con người ta ra khỏi niềm đau nỗi khổ cho được ?



c. Phúc- Di – Phối : Phúc Đức – Xã hội – Hôn nhân : Khía cạnh nhân quả của sự tương tác , tập nhiễm giữa Cá nhân và xã hội . Luận giải phần này ngoài nguyên tắc tương sinh, tương khắc âm dương ngũ hành và tính cách các bộ sao chính phụ, nhiều khi các nhà luận

giải còn mang vào đây một số yếu tố khác từ Kinh Dịch ( trong việc tương tác với xã hội ) và yếu tố Nghiệp Báo ( trong việc xem xét cung Phúc ) . Tạo cho đương số một Vọng tâm khác về Ái Dục . Tuy nhiên , điều tích cực của Tử Vi là khuyên người ta nên tạo Phúc , để hạn chế cái Vọng tâm về Tiền Tài, Quyền lực, Khát Ái .



d. Điền – Tật – Bào : Đất đai – Tật Ách – Anh em : đây là một mối quan hệ trong sản xuất nông nghiệp xa xưa . Mối quan hệ này sẽ sinh ra mọi điều tốt hay xấu , mà cung Tật ách sẽ luận giảng . Đây là những vòng Cộng nghiệp nhỏ trong Gia đình , nơi mà Nhân Quả

của đã chứa sẵn từ Tổ tiên vật chất và tâm linh .



10. Phần Xung chíếu : là hai cung đối xứng chéo nhau . Trên nguyên tắc , là có 6 cặp xung chiếu nhau , nhưng trên thực tế , nhà luận giải chỉ xem cung Mệnh và Di , và cung Thân ( nếu có) với xung chiếu của nó . Tuy nhiên , việc an các bộ sao trong các cung cũng được tính toán cho tính cách Tam hợp , vì thế , thật ra chỉ còn 2 bộ xung chiếu :



a. Mệnh, Tài, Quan Xung chiếu với Di, Phúc, Phối : ta nhìn lại đoạn trên sẽ dễ nhận thấy bản chất của cách giải đoán thấp thoáng trong đó rồi !



b. Phụ , Tử , Nô xung với Tật, Điền, Bào : 2 bộ xung chiếu này còn nói lên rõ nét hơn về bản chất của việc luận giải !



11. Phần Tiền Hậu : đó là 2 cung trước và sau của cung được xét luận giải . Và thường, cũng chỉ xét Tiền Hậu của cung Mệnh và cung Thân ( nếu có ) . Cũng như trên , do Xung chiếu và Tam hợp, nên cũng chỉ có 2 bộ cung tiền hậu mà thôi Chỉ riêng 2 chữ Tiền Hậu , cũng đã nói lên ý nghĩa của việc giải đóan rồi !



Như vậy, xét về luận giải các cung , thì thật ra , chỉ là sự xem xét toàn cảnh việc tương tác giữa Cá Nhân – Gia Đình – Xã hội đóng khung trong 12 hoàn cảnh xã hội Trung Quốc mà thôi . Đây chỉ là một trò chơi thăm dò tâm lý cá nhân mà thôi . Một trò Trắc nghiệm Tâm lý được trừu tượng hoá .



12. Một số nhà luận giải , không muốn sai lầm nhiều, thường sử dụng thêm lý thuyết Tướng Mệnh học ( Tướng tuỳ Tâm sinh, Tâm cũng tuỳ Tướng sinh ) để xem tướng kết hợp với Tử vi . Xét về mặt khoa học, các dân tộc khác nhau , có hình thái khác nhau ( di truyền hình thái ) và số liệu nhân trắc khác nhau . Tướng mệnh học đã lâm vào ngõ cụt . Có lẽ chỉ sử dụng cho người thuộc chủng Trung quốc . Ngoài ra , các nhà luận giải sẽ làm sao với những người đang nhiếp các Oai nghi ? Cũng như thế, một số nhà luận giải cũng tham khảo thêm cả Chỉ tay . Nhưng cũng như trên , nhân trắc khác nhau làm sao áp dụng ? Trái với Chỉ tay , Kiểu Vân Tay cũng là một đặc trưng cho Kiểu Gen , mà các nhà Hình Pháp Học đã áp dụng . Điều này đã nói lên sự võ đoán của Chỉ Tay . Cuối cùng , xét theo Tâm lý học Phật giáo , các dân tộc khác trên thế giới, có các nền văn minh khác nhau , tổ chức xã hội khác nhau , thì Tử vi sẽ không thể nào giải đoán được nữa . Do Tâm và Thức sinh hoạt khác nhau , sẽ tạo tác ra xã hội khác nhau .



13. Mặt khác , phân tích 12 cung Tử vi qua quan điểm Triết học Phật giáo , ta thấy gần như sau :



Theo Tử Vi Theo Nghiệp Quả Theo Lục Dục



• Mệnh ( Thân ) , Tài , Quan Mệnh và Nghiệp, Tư Duy Tham, Ái , Chấp Ngã