|
Lưu ý:
ỨNG DỤNG
Xem tuổi cưới gả chỉ xem tuổi của nam
giới, vì chú rể là Thể còn cô dâu là
Dụng, qua các cách sau :
1/- Xem chính : Lấy cung Phi chú rể
tính sinh khắc với cung Phi cô dâu.
2/- Xem chính : Lấy cung Mệnh trong Lục
Thập Hoa Giáp, tính sinh khắc với cung
Mệnh cô dâu.
3/- Xem phụ : Lấy Âm Dương Ngũ Hành
phần nạp âm để tính Vượng Tướng Hưu Tử
Tù, Ấu Tráng Lão.
4/- Xem phụ : Lấy Thiên Can năm sinh chú
rể với Địa Chi năm sinh cô dâu.
Thực nghiệm
chỉ cần xem 1,2 cách và phối hợp tìm hiểu
thêm cá tính 2 bên Nam và Nữ, quan niệm có
hợp nhau, bổ túc cho nhau không thì tạm đầy
đủ.
Sau đây là xem cách số 3 và số 4
3/- Xem phụ : Lấy Âm Dương Ngũ Hành
phần nạp âm để tính Vượng Tướng Hưu Tử
Tù, Ấu Tráng Lão (HIỆP
HÔN ĐỊNH CUỘC
1)
Trong bảng “Ngũ Hành hiệp
hôn” sau đây (hình
1)
tính độ cát hung cho các cung mệnh Ngũ
Hành nam nữ khi cưới vợ lấy chồng. Để
biết sự Sinh Khắc của Ngũ Hành, xin xem bài
“Ngũ Hành và Ngũ mệnh đặc quái”.
Hình
1:

Ngoài những cách sinh khắc nói trong
biện chứng, Ngũ hành còn có thuyết
tuy cùng một hành nhưng có sinh (tương
hợp) có khắc (xung, hình, khắc), tuổi
nào hợp nhau và cân được hành nào hô
trợ để có cách hợp, hay hóa giải
cách khắc, như sau :
Tương Sinh
-
LƯỠNG KIM
thành khí (hợp thành vật dụng)
- LƯỠNG THỔ thành sơn (hợp lại thành
núi)
- LƯỠNG MỘC thành lâm (hợp lại thành
rừng cây)
- LƯỠNG HỎA thành viên (hợp thành sức
nóng)
- LƯỠNG THỦY thành xuyên (hợp lại
thành sông)
Tương Khắc
-
Lưỡng KIM khuyết (bể mất một)
- Lưỡng MỘC chiết (gảy mất một)
- Lưỡng THỦY kiệt (khô cạn hết)
- Lưỡng HỎA diệt (tắt tất cả)
- Lưỡng THỔ liệt (nhảo nát không dùng
được)
Nên khi xét biện chứng của ngũ hành,
chúng ta nên xét đến yếu tố nạp âm,
vì khắc chưa phải đã hung, còn sinh
chưa hẳn đã tốt.
Khi luận các cách sinh khắc trên, người
xưa đã lây biện chứng đê giải thích :
Nói về HÀNH
KIM :
Muốn lưỡng Kim thành khí,
mệnh phải thuộc Hải Trung Kim, Sa Trung
Kim hoặc Bạch Lạp Kim tức
kim loại chưa tinh
chế, phải nhờ
có Hỏa mới thành khí, nhưng phải là
Lư Trung Hỏa hay Phù Đăng Hỏa mới thích
hợp.
Những Hỏa khác khắc kỵ
với Kim (Hỏa khắc Kim). Như
Thoa Xuyến Kim, Kiếm Phong
Kim, Kim Bạch Kim gặp Thiên Thượng Hỏa,
Tích Lịch Hỏa trở thành Kim khuyết,
ví như kim loại mà gặp lửa sẽ bị
nóng chảy hay sứt mẻ.
Nói về HÀNH
MỘC :
Khi muốn lưỡng Mộc thành lâm, tức phải
có nhiều cây chụm lại mới thành rừng,
gồm những cây như Tùng Bá Mộc, Dương
Liễu Mộc hay Bình Địa Mộc, nhưng phải
nhờ Đại Trạch Thổ, Sa Trung Thổ hay Lộ
Bàng Thổ thuộc những vùng đất lớn,
nên Tùng Bá và Dương Liễu Mộc không
khắc Thổ, trái lại phải nhờ Thổ. Còn
Đại Lâm Mộc khắc với ba hành Thổ trên
(khắc xuất), nhưng gặp Kim sẽ thành
Mộc chiết (khắc nhập).
Nói về HÀNH
THỦY :
Khi lưỡng Thủy thành xuyên phải là
Tuyền Trung Thủy phối hợp với Đại Khê
Thủy hay Giang Hà Thủy phối hợp với
Trường Lưu Thủy, hoặc cả hai phối hợp
với Đại Hải Thủy mới thành sông to,
biển lớn. Những hành Thủy này tạo
dựng thành công bằng chính bản thân
không nhờ ai (như Kim, Mộc), chỉ có
Thiên Hà Thủy không phối hợp được với
bất cứ mệnh Thủy nào khác.
Thổ chỉ khắc được Thủy làm Thủy
kiệt, với các hành như Tuyền Trung
Thủy, Đại Khê Thủy, Trường Lưu Thủy,
đất bồi làm mất dòng chảy của nước;
nhưng không chế ngự được với Giang Hà
Thủy, Đại Hải Thủy những sông to biển
lớn hay Thiên Hà Thủy nước trên trời.
Nói về HÀNH
HỎA :
Để được lưỡng Hỏa thành viên phải có
Lư Trung Hỏa phối hợp với Phù Đăng
Hỏa, hay Sơn Đầu Hỏa với Sơn Hạ Hỏa,
hoặc Tích Lịch Hỏa với Thiên Thượng
Hỏa. Về 4 mệnh Hỏa đầu cần có thêm
Mộc để đạt đến mục đích lửa to cháy
lớn, được sinh nhập (Mộc sinh Hỏa),
còn hai hành Hỏa từ trên trời không
cần đến Mộc vẫn phát huy được tính
cách lưỡng Hỏa thành viên của mình.
Còn Hỏa diệt khi Lư Trung, Phù Đăng, Sơn
Đầu, Sơn Hạ Hỏa gặp phải nước (Thủy
khắc Hỏa) là khắc nhập. Riêng Tích
Lịch Hỏa, Thiên Thượng Hỏa chỉ khắc
Thiên Hà Thủy.
Nói về HÀNH
THỔ :
Muốn lưỡng Thổ thành sơn, chỉ có Lộ
Bàng Thổ, Sa Trung Thổ hay Đại Trạch
Thổ phối hợp nhau không cần sự tiếp
tay của những hành khác, 3 mệnh Thổ
còn lại không thể thành núi vì những
Thổ này rời rạc và nhỏ bé, muốn
thành núi phải nhờ đến Hỏa tiếp tay
diệt Mộc, tức lửa đốt cháy cây để
thành đất. 3 mệnh Lộ Bàng, Sa Trung,
Đại Trạch Thổ nếu có Hỏa sẽ thêm
tốt, công danh sự nghiệp sẽ phất càng
cao thêm.
Tính đến Thổ liêt cả lục Thổ đều kỵ
Mộc, tức khắc nhập (Mộc khắc Thổ),
cây có thể mọc khắp nơi trên mọi loại
đất, từ đất nóc nhà, đất bờ tường,
đầu thành hay đất đầm lầy, bãi cát,
đường lộ; ngoài Mộc nhiêu mệnh Thổ
còn đại kỵ khi gặp phải các hành
Thủy sau đây, dù là khắc xuất nhưng từ
thứ hung sang đại hung :
- Lộ Bàng Thổ và Đại Trạch Thổ gặp
Giang Hà Thủy và Trường Lưu Thủy, sẽ
làm cho đất lỡ lún.
- Sa Trung Thổ gặp Đại Khê Thủy hay
Tuyền Trung Thủy làm cho sói mòn.
- Thành Đầu Thổ, Bích Thượng Thổ và
Ốc Thượng Thổ rất sợ Thiên Hà Thủy
làm cho đất nhão nhoẹt đến hủy diệt.

Để thành công qua các cách trên, như
lưỡng Kim thành khí phải nhờ có Hỏa,
lưỡng Mộc thành lâm phải có Thổ,
lưỡng Hỏa thành viên phải có Mộc và
lưỡng Thổ thành sơn phải có Hỏa, còn
lưỡng Thủy thành xuyên không cần mệnh
nào gián tiếp hỗ trợ.
Những hành gián tiếp hỗ trợ được
hiểu theo nghĩa đen như sau : trong công
việc kinh doanh hai người cùng hợp tác,
nếu cùng một mệnh cần thêm người thứ
ba phục vụ, hành Kim tìm người mệnh
Hỏa, hành Mộc tìm người mệnh Thổ,
hành Hỏa tìm người mệnh Mộc, hành
Thổ tìm người mệnh Hỏa. Trong đó nên
tránh những mệnh tương khắc.
Còn trong hôn sự, cổ nhân thường có câu
“nhất gái lớn hai, nhì trai hơn một”
qua những điển hình sau.
Thí dụ
: trai Kỷ Sửu lấy gái Canh Dần (trai
hơn một), hay gái Canh Dần lấy trai Nhâm
Thìn (gái lớn hai) sẽ hợp tốt theo câu
phú trên.
Tính về sinh khắc : trai Kỷ Sửu mang
hành Hỏa (Tích Lịch Hỏa) lấy gái Canh
Dần (Tùng Bá Mộc) là Mộc sinh Hỏa, ở
cách này người con gái sẽ trở thành
nô lệ hơn là vợ chồng hạnh phúc, do
gặp cảnh chồng chúa vợ tôi. Hậu quả
về sau gia đạo thường bất hòa, trước
tốt sau hung.
Còn gái Canh Dần lấy trai Nhâm Thìn
(Trường Lưu Thủy) là Thủy sinh Mộc,
tức người chồng sẽ lo cho vợ con, gia
đình hòa thuận, cùng nhau “tát bể đông
cũng cạn”, sẽ mang đến giàu sang phú
quý. Bởi lẽ thường người vợ lớn tuổi
hơn chồng trước sẽ biết tự lo cho bản
thân, sau lo cho chồng con, không thụ
động theo cảnh thường thấy ở những đôi
vợ chồng. Còn người chồng tuy nhỏ
tuổi nhưng lại là gia trưởng cũng biết
lo lắng cho gia đình. Cả hai cùng bươn
trải xây dựng cơ ngơi, không ai thụ
động, nên của cải càng thêm lớn.
Còn vợ chồng đồng mệnh (không theo
tuổi tác chỉ tính theo Ngũ Hành nạp
âm), nên xem diễn giải sinh khắc đã
nói, và sinh con theo tính tương hợp là
tốt, còn sinh theo tính tương khắc là
xấu. Trong công việc còn có thể thay
đổi người thứ ba, với con cái chúng
sẽ theo đuổi vận mệnh vợ chồng đến
cuối đời.
Trong hôn nhân phần xem tuổi vợ chồng
qua Ngũ Hành sinh khắc, nhiều người
thường lo lắng như trai mệnh Thổ lấy
gái mệnh Mộc (Mộc khắc Thổ) sẽ yểu
thọ, vì cây sẽ hút hết chất màu mở
của đất v.v…
Tuy nhiên, trong 5 hành đều có tính
chất riêng là phần nạp âm, như Thổ có
Lộ bàng Thổ, Sa trung Thổ, Đại trạch
Thổ v.v… Nên khi gặp khắc mà tốt, còn
thấy sinh lại xấu. Sau đây là tính
chất sinh khắc của nạp âm :
HÀNH KIM :
Kiếm, Sa Kim
phong lưỡng ban kim
Mộc mệnh
nhược phòng tức khắc hiềm
Ngoại hữu tứ
Kim giải kỵ Hỏa
Kiếm sa vô Hỏa
bất thành hình.
Giải thích : Đừng nghĩ Hỏa khắc Kim,
nếu mệnh là Kiếm Phong Kim và Sa Trung
Kim mà hợp cùng người mệnh Hỏa trong
hôn nhân, lại tốt đẹp vô cùng.
Kiếm Phong Kim (vàng trong kiếm) và Sa
TrungKim (vàng trong cát), nếu không có
lửa (Hỏa) thì không thành vật dụng.
Nhưng cả hai khắc với Mộc (Kim khắc
Mộc) vì hình kỵ, dù Mộc hao Kim lợi
(Kim được khắc xuất, mất phần khắc)
nhưng vẫn chịu thế tiền cát hậu hung
(trước tốt sau xấu), do Kim chưa tinh
chế nên không hại được Mộc vượng, không
chém được cây lại thêm tổn hại.
4 hành Kim còn lại là Hải Trung Kim
(vàng trong biển), Bạch Lạp Kim (vàng
trong sáp), Thoa Xuyến Kim (vàng trang
sức) và Kim Bạch Kim (kim loại màu)
đều kỵ hành Hỏa.
HÀNH HỎA :
Giải
thích : Ba loại Phù Đăng Hỏa (lửa đèn
dầu), Lư Trung Hỏa (lửa bếp lò) và Sơn
Đầu Hỏa (lửa trên núi) gặp hành Thủy
sẽ khắc kỵ. Khi gặp nước ba thứ lửa
trên sẽ bị dập tắt, đúng nghĩa Thủy
khắc Hỏa, thuộc diện khắc nhập mất
phần phúc.
Còn Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời)
và Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét) lại
cần phối hợp với hành Thủy, bởi có
nước thì càng phát huy được tính
chất, khí âm (thủy) gặp khí dương
(hỏa) sẽ gây ra sấm sét.
HÀNH MỘC :
Bình Địa Mộc
trung chỉ nhất sinh
Bất phùng Kim
giả bất năng thành
Ngũ ban biệt
Mộc kỵ Kim loại
Nhược ngộ
đương nhiên bất đắc sinh
Giải thích : Trong Lục Mộc chỉ có
Bình Địa Mộc (cây trên đất) không sợ
Kim (Kim khắc Mộc), mà còn cần hòa
hợp mới thành vật hữu dụng (cưa, búa
đẻo gọt cây thành vật để dùng như tủ,
bàn, ghế).
Những loại Mộc còn lại như Tù̀ng Bá
Mộc (cây tùng già), Dương Liễu Mộc (cây
dương liễu), Tang Đố Mộc (cây dâu tằm),
Thạch Lựu Mộc (cây mọc trên đá) và
Đại Lâm Mộc (cây trong rừng già) đều
sợ Kim, nếu phối hợp sẽ tử biệt hay
nghèo khổ suốt đời (Hưu Tù Tử). Những
loại cây trong rừng (Đại Lâm, Tùng Bá),
những cây sống chùm gửi (Thạch Lựu),
cây còi (Dương Liễu) rất hay bị đốn
chặt, khai quang.
HÀNH THỦY :
Đại Hải Thủy,
Thiên Hà Thủy lưu
Nhị ban bất
dữ Thổ vi cửu
Ngoại giả đô
lai toàn kỵ Thổ
Phùng chi y
lộc tất nan cầu.
Giải thích : Đại Hải Thủy (nước
biển), Thiên Hà Thủy (nước trên trời)
không sợ gặp Thổ dù Thổ khắc Thủy
(Thủy hao Thổ lợi) vì đất không ở
biển lớn hay trên trời, cả hai phối
hợp cùng Thổ càng mau thành công, nếu
thành vợ chồng sẽ dễ hiển đạt đường
công danh phú quý.
Còn Trường Lưu Thủy (sông dài), Giang
Hà Thủy (sông cái), Tuyền Trung Thủy
(nước suối) và Đại Khê Thủy (nước khe)
đều kỵ Thổ, nước chỉ làm lợi cho
đất, số sẽ vất vả, nghèo khó, vì
nước mất mát cho đất thêm màu mở.
HÀNH THỔ :
Lộ Bàng, Đại
Trạch, Sa Trung Thổ
Đắc Mộc như
đạt thanh vân lộ
Ngoại hữu tam
ban phách Mộc gia
Phùng chi tất
mệnh tu nhập mộ.
Giải thích : Lộ Bàng Thổ (đất đường
lộ), Đại Trạch Thổ (đất đầm lầy) và
Sa Trung Thổ (đất bãi cát) không sợ
Mộc, vì cây không sống giữa đường cái
quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba
hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc
dù Mộc khắc Thổ, Thổ hao Mộc lợi,
trái lại còn có đường công danh, tài
lộc thăng tiến không ngừng.
Thành Đầu Thổ (đất bờ thành), Bích
Thượng Thổ (đất trên tường) và Ốc
Thượng Thổ (đất nóc nhà) đều sợ Mộc,
nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc,
như thân tự chôn xuống mộ. 3 hành Thổ
này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm
Mộc, Tùng Bá Mộc nhưng không bền vững
vì hình kỵ.
(Xem trong cuốn “Tướng mệnh và Hạnh phúc lứa
đôi” của Thiên Việt, do nhà sách Văn Chương
tổng phát hành toàn quốc, đầy đủ các bài xem
về hôn nhân)
Thiên Việt
|