BS
NGUYỄN
THƯỢNG
CHÁNH
&
DS
NGUYỄN
NGỌC
LAN
Có
một
điểm
tương
đồng
ở
tất
cả
mọi
người,
dù
già
hay
trẻ,
dù
Ta
hay
Tây
ai
nấy
cũng
đều
thích
ngọt
cả...
Một
món
ăn
có
vị
ngọt
vẫn
dễ
hấp
dẫn
khẩu
vị
hơn
là
một
món
ăn
nhạt
nhẽo
vô
vị.
Một
lời
nói
ngọt
ngào
dù
cho
không
thật
lòng
đi
nữa,
vẫn
làm
mát
lòng
người
nghe
hơn
là
một
lời
nói
móc
lò
xỏ
ngọt,
chua
cay,
đầy
đố
kỵ
hơn
thua
cao
thấp!
Thèm
ngọt
là
một
nhu
cầu
thiết
yếu
của
cơ
thể,
để
củng
cố
năng
lượng.
Carbohydrate
hay
Glucide
là
những
hợp
chất
bao
gồm
đường
(sugar),
bột
đường
hay
tinh
bột
(amidon,
starch)
và
chất
xơ
(fibre).
Những
chất
nầy
rất
cần
thiết
cho
chúng
ta
để
sống.
Nhưng
ngọt
quá
đôi
khi
cũng
nguy
hiểm
lắm
đó!
Ngọt
mật
chết
ruồi
mà!
Lời
đường
mật
làm
cho
con
người
mù
oán,
si
mê
điên
dại.
Hảo
ngọt
quá
đôi
khi
cũng
làm
cuộc
đời
thêm
khốn
khổ
rắc
rối…
Các
loại
đường
Đường
là
chất
phụ
gia
(additif
alimentaire,
food
additive)
đứng
hàng
đầu
tại
Hoa
Kỳ.
Các
chất
đường
thiên
nhiên
sau
đây
được
xem
là
tiêu
biểu
và
thông
dụng
nhất:
*-Đường
cát
(table
sugar,
white
sugar,
granulated
sugar):
Đường
cát
là
loại
đường
thông
dụng
nhất
hiện
nay
trên
thế
giới.
Màu
trắng,
hạt
nhuyễn
mịn
hay
to,
được
trích
lấy
và
biến
chế
từ
mía
đường
hoặc
từ
củ
cải
đường
(beets).
Tên
khoa
học
của
đường
cát
là
sucrose
hay
saccharose.
Đường
cát
đã
chịu
qua
nhiều
giai
đoạn
tẩy
trắng
bằng
hóa
chất
nên
rất
tinh
chế,
cho
nên
có
người
nói
rằng
ăn
đường
cát
thường
xuyên
sẽ
không
tốt
cho
sức
khỏe.
*-Đường
thô
(raw
sugar):
Có
được
trong
giai
đoạn
đầu
của
việc
sản
xuất
đường.
Đường
thô
màu
xậm
và
hạt
to
hơn
đường
cát
trắng.
Tại
Hoa
Kỳ,
sau
khi
lấy
bớt
chất
bẩn
ra,
đường
thô
được
bán
với
những
tên
như
demerera,
turbinado,
hoặc
muscavado.
*-Đường
nâu
(brown
sugar,
sucre
roux,
cassonade):
Màu
từ
sậm
tới
lợt.
Đây
là
90%
đường
cát
có
trộn
10%
mật
đường.
Rất
được
nhiều
người
sử
dụng
vì
họ
nghĩ
rằng
loại
đường
nầy
có
vẻ
thiên
nhiên
cho
nên
tốt
cho
sức
khỏe
hơn
mấy
loại
đường
cát
trắng
tinh
chế?
*-Đường
bột
(confectioner’s
sugar,
powdered
sugar):
Đây
là
loại
đường
nhuyễn
y
như
bột.
Đôi
khi
người
ta
thêm
tinh
bột
bắp
để
giúp
đường
khỏi
bị
đóng
cục.
Đường
bột
được
dùng
để
áo
bên
ngoài
của
các
loại
bánh
ngọt.
*-Đường
trái
cây
(fructose):
Hiện
diện
một
cách
tự
nhiên
trong
các
loại
trái
cây.
*-Đường
của
sữa
(lactose):
Các
loại
sữa
đều
có
chứa
lactose
một
cách
tự
nhiên.
Ít
ngọt.
*-Đường
lúa
mạch
(maltose)
*-Mật
đường
(molasse):
Sau
khi
đường
cát
được
trích
lấy,
chất
nước
còn
lại
được
gọi
là
mật
đường.
Chất
nầy
có
màu
đen,
vị
ngọt
hơi
đắng
và
có
chứa
nhiều
chất
khoáng
như
magnesium
và
chất
sắt.
Mật
đường
được
dùng
để
nuôi
gia
súc,
để
cất
rượu
cồn
ethyl
alcohol,
hoặc
để
làm
bánh.
*-Sirop
bắp
(corn
syrup):
Còn
được
gọi
là
high
fructose
corn
syrup
vì
chứa
rất
nhiều
fructose.
Đường
glucose
của
tinh
bột
bắp
được
chuyển
thành
fructose.
Sirop
bắp
được
sử
dụng
rất
rộng
rãi
trong
kỹ
nghệ
biến
chế
thực
phẩm.
*-Sirop
nhựa
cây
phong
(sirop
d’érable,
maple
syrup):
Đây
là
sirop
quốc
hồn
quốc
túy
của
Canada.
Nhựa
cây
phong
được
trích
lấy
khoảng
tháng
ba
khi
trời
bớt
tuyết
và
trời
bắt
đầu
hơi
ấm
áp,
đến
cuối
tháng
tư
lúc
cây
đâm
chồi
thì
ngưng
hứng
nhựa.
Bốn
mươi
gallons
nhựa
cây
phong
đem
nấu
cho
được
một
gallon
sirop.
Từ
sirop
nhựa
cây
phong
người
ta
còn
biến
chế
thành
nhiều
thành
phẩm
khác
rất
ngon
như
beurre
d’érable,
tire,
kẹo,
v.v...
*-Mật
ong
(honey):
Rất
thay
đổi
tùy
loại
mật.
Nói
chung,
mật
ong
chứa
nhiều
đường
fructose
(levulose)
38%,
dextrose
31%,
sucrose
1%,
nước
17%
và
vitamins.
*-Đường
nghịch
chuyển
(invert
sugar):
Có
được
qua
phương
pháp
làm
thủy
phân
sucrose
ra
đường
glucose
(dextrose)
và
đường
fructose
với
một
tỷ
lệ
bằng
nhau.
Đường
nghịch
chuyển
ngọt
hơn
đường
cát,
và
thường
được
dùng
để
làm
chậm
lại
hiện
tượng
kết
tinh
(thí
dụ
trong
các
lọ
mứt)
cũng
như
để
giữ
ẩm
đổ
lâu
hơn
nhất
là
đối
với
các
loại
bánh
ngọt
có
chứa
rất
ít
chất
béo,
nhờ
vậy
sản
phẩm
sẽ
lâu
khô
và
có
vẻ
tươi
mới.
+
Ở
Việt
Nam,
ngoài
những
loại
đường
thông
thường
như
vừa
kể
bên
trên,
mình
cũng
có
nhiều
loại
đường
rất
đặc
biệt
và
rất
bình
dân,
đó
là:
đường
thẻ,
đường
móng
trâu,
đường
chảy
dùng
để
nấu
chè
hoặc
kho
cá
vì
nó
rẻ
tiền.
Đường
xắc,
dùng
làm
nước
mắm
hoặc
để
ăn
xoài
tượng
sống
ngon
khỏi
chỗ
chê.
Vùng
Tân
Châu,
Châu
Đốc
thì
có
đường
thốt
lốt,
ngọt
dịu
và
thơm
nữa.
Muốn
sang
hơn
thì
ăn
đường
phổi,
đường
phèn,
nhưng
những
loại
đường
nầy
cũng
không
mấy
thông
dụng
cho
lắm.
Rồi
còn
đường
mạch
nha
kéo
trên
bánh
tráng
bánh
phồng
nữa.
Ba
bốn
chục
năm
về
trước,
lúc
quê
hương
còn
trong
khói
lửa,
đường
là
một
nhu
yếu
phẩm,
thường
bị
khan
hiếm
một
phần
do
con
buôn
đầu
cơ
tích
trữ
cho
nên
giá
mua
rất
đắt.
+Tại
Canada,
lúc
bán
sale
mua
đường
có
khi
còn
rẻ
hơn
là
mua
muối.
Đường
đơn
giản
hay
đường
hấp
thụ
nhanh
(Sucre
simple
ou
à
absorption
rapide)
Đây
là
đường
thiên
nhiên
theo
nghĩa
thông
thường
mà
chúng
ta
hiểu…Những
chất
tạo
vị
ngọt
nầy
được
thấy
trong
bánh,
kẹo,
chè,
chocolat
hoặc
trong
các
loại
nước
ngọt
loại
regular
như
Pepsi,
Coca,
Soda,
Seven
Up,
v.v…
Đường
mía
(saccharose)
,
đường
trái
cây
(fructose),
đường
sữa
(lactose)
là
những
thí
dụ
điển
hình.
Trong
ruột,
đường
đơn
giản
chuyển
thành
glucose
và
được
hấp
thụ
vào
máu
một
cách
rất
nhanh
chóng.
Khi
đường
huyết
glycémie
tăng,
lập
tức
tụy
tạng
sẽ
tiết
ra
insuline
để
giúp
tế
bào
hấp
thụ
glucose
vào
đồng
thời
kéo
đường
huyết
xuống
mức
bình
thường.
Đường
phức
tạp
hay
đường
hấp
thụ
chậm
(Sucre
complexe
ou
à
absorption
lente)
Vị
hơi
ngọt
và
gồm
có
bột
đường
(tinh
bột)
và
các
chất
xơ.
Tinh
bột
được
thấy
trong
bánh
mì,
khoai
Tây,
cơm,
gạo,
ngũ
cốc
và
trong
các
loại
pasta
như
nouille,
macaroni,
spaghetti,
v.v...
Chất
xơ
có
nhiều
trong
rau,
cải,
hoa
quả,
đậu,
trong
hạt
dẻ
(walnuts)
cũng
như
trong
các
loại
cereal
làm
từ
hạt
thô
(wholemeal
grain,
grain
entier)...
Đường
phức
tạp
cần
sự
tác
động
của
một
số
enzymes
để
chuyển
ra
thành
glucose
rồi
mới
được
hấp
thụ
vào
máu.
Bởi
lý
do
nầy,
cho
nên
đường
huyết
tăng
lên
chậm
hơn
so
với
trường
hợp
đường
đơn
giản.
Đường
phức
tạp
rất
cần
cho
các
hoạt
động
biến
dưỡng
của
cơ
thể.
Đường
đơn
giản
và
đường
phức
tạp
không
thể
thay
thế
lẫn
nhau
được.
Ăn
nhiều
đường
quá
có
hại
sức
cho
khỏe
không?
Đường
đơn
giản
và
đường
phức
tạp
đều
tạo
ra
năng
lượng.
Một
gram
đường
cho
ra
4
calories.
Năng
lượng
dư
thừa
sẽ
được
dự
trữ
dưới
dạng
glycogen
và
mỡ...
Ăn
ngọt
thường
xuyên
quá,
mập
ra
cũng
dễ
hiểu
mà
thôi.
Tình
trạng
béo
phì
dễ
dẫn
đến
các
bệnh
tim
mạch,
tăng
huyết
áp
và
tiểu
đường.
Ngoài
ra,
việc
ăn
nhiều
đường,
kể
cả
đường
thiên
nhiên
như
đường
trái
cây
và
mật
ong
cũng
vậy,
có
thể
đưa
đến
tình
trạng
hư
răng
nếu
không
chịu
súc
miệng
đánh
răng
kỹ
lưỡng.
Ăn
nhiều
bánh
kẹo
ngọt
cũng
có
thể
làm
chất
triglyceride
(một
loại
chất
béo
xấu)
trong
máu
gia
tăng.
Năm
2005,
Tổ
chức
Y
tế
Thế
giới
(WHO)
cho
biết
trên
thế
giới
có
vào
khoảng
trên
170
triệu
người
mắc
bệnh
tiểu
đường
và
con
số
nầy
có
thể
tăng
gấp
đôi
vào
năm
2030.
Chỉ
riêng
Hoa
Kỳ
cũng
có
trên
21
triệu
bệnh
nhân.
Thực
phẩm
quá
dồi
dào
đường
cũng
như
quá
nhiều
dầu
mỡ
và
chất
béo
bão
hòa,
cộng
thêm
việc
thiếu
vận
động
là
những
nhân
tố
dẫn
đến
tình
trạng
béo
phì,
bệnh
tim
mạch
và
bệnh
tiểu
đường
type
II
còn
được
gọi
là
Diabetes
mellitus
.
Bệnh
tiểu
đường
đã
chiếm
8%
ngân
sách
về
y
tế
tại
các
quốc
gia
kỹ
nghệ.
Người
ta
còn
gọi
đây
là
bệnh
của
nhà
giàu,
nhưng
thực
tế
cho
thấy
bệnh
tiểu
đường
không
tha
nhà
giàu
cũng
như
không
bỏ
nhà
nghèo.
Bệnh
tiểu
đường
là
bệnh
gì?
Tiểu
đường
là
một
bệnh
mạn
tính
do
tụy
tạng
không
có
khả
năng
tiết
insulin,
hay
tiết
không
đủ
số
cần
thiết
hoặc
insulin
không
hữu
hiệu
trong
việc
giúp
hấp
thụ
đường
glucose
từ
máu
vào
tế
bào.
Tiểu
đường
type
II
(non
insulin
dependent
diabetes)
chiếm
đa
số
90%
,
thường
xảy
ra
cho
những
người
trung
niên
trở
lên,
nhưng
hình
như
ngày
nay
giới
trẻ
tiêu
thụ
quá
nhiều
fast
foods
cũng
có
khuynh
hướng
mắc
bệnh
tiểu
đường
type
II...
Tiểu
đường
type
I
(insulin
dependent
diabetes,
juvenile
diabetes),
là
một
loại
bệnh
tự
miễn
(autoimmune)
hủy
hoại
tế
bào
bêta
của
tụy
tạng
nên
không
thể
tiết
được
hormone
insulin.
Bệnh
nầy
chiếm
10%
và
thường
thấy
ở
trẻ
em
và
thiếu
niên.
Người
bệnh
cần
phải
được
tiêm
insuline
mỗi
ngày
và
chích
suốt
cuộc
đời.
Ngoài
ra,
đôi
khi
chúng
ta
thấy
một
loại
bệnh
tiểu
đường
ở
phụ
nữ
lúc
đang
mang
thai
(gestational
diabetes).
Bệnh
thường
khỏi
sau
khi
sanh,
nhưng
có
thể
có
nhiều
nguy
cơ
tái
phát
thành
bệnh
diabetes
type
II
sau
nầy.
Bệnh
có
thể
do
di
truyền
hoặc
thụ
đắc
(acquise).
Mệt
mỏi,
mất
cân,
ăn
nhiều
(polyphagia)
,
uống
nước
nhiều
(polydipsia)
và
đi
tiểu
nhiều
(polyuria)
là
những
dấu
hiệu
chính
của
bệnh
tiểu
đường.
Nguy
hiểm
nhất
là
bệnh
có
thể
gây
những
biến
chứng
về
mắt
(rétinopathie
diabétique)
đưa
đến
mù
lòa,
làm
suy
thận
(insuffisance
rénale),
hoặc
dẫn
đến
các
bệnh
lý
về
tim
mạch
(cardiopathies)
,
về
thần
kinh
(neuropathie
diabétique)
hoặc
làm
loét
chân
(ulcération
des
pieds)
đưa
đến
việc
cưa
chân...
Bệnh
nhân
chết
vì
các
biến
chứng
của
bệnh
tiểu
đường
gây
ra
mà
thường
nhất
là
bị
hư
thận.
Có
rất
nhiều
loại
thuốc
uống
để
kềm
hãm
đường
huyết,
và
nếu
trường
hợp
quá
nặng
thì
cần
phải
chích
insuline
mỗi
ngày.
Đa
số
thuốc
đều
có
phản
ứng
phụ
(side
effects)
bất
lợi.
Tùy
theo
tình
trạng
sức
khỏe
của
mỗi
người
cũng
như
sự
hiện
diện
của
biến
chứng
mà
bác
sĩ
kê
toa
một
loại
thuốc
nào
đó,
hoặc
đổi
thuốc
khác,
hoặc
điều
chỉnh
liều
lượng
của
món
thuốc
cho
thích
hợp
hơn,
v.v...
Người
bị
tiểu
đường
cần
phải
thay
đổi
nếp
sống,
kiêng
cữ
đủ
thứ,
tránh
các
loại
thức
ăn
ngọt,
cơm
gạo,
xôi
chè,
bánh
trái
chế
biến
từ
bột
tinh
chế
(refined).
Cần
tránh
thức
ăn
chứa
nhiều
mỡ
dầu,
ngoài
ra
cũng
cần
phải
kiên
trì
vận
động
tập
thể
dục
thường
xuyên
mỗi
ngày.
Tập
chí
New
England
Journal
of
Medicine,
Feb7/2008
có
đăng
bài
nghiên
cứu
về
bệnh
tiểu
đường.
Đây
là
kết
quả
của
một
công
trình
khảo
cứu
nằm
trong
chương
trình
Diabetes
Prevention
Program
DPP
do
National
Institute
of
Diabetes
and
Digestive
and
Kidneys
Disease
s
tài
trợ,
và
thực
hiện
từ
nhiều
năm
qua
trên
3000
người
có
dấu
hiệu
nói
lên
nguy
cơ
có
thể
bị
bệnh
tiểu
đường
type
II
trong
tương
lai.
Đó
là
sự
béo
phì
(obesity)
và
sự
rối
loạn
khả
năng
dung
nạp
glucose
(Impaired
Glucose
Tolerance),
có
nghĩa
là
đường
huyết
nằm
cao
hơn
mức
bình
thường
6,1mmol/L
nhưng
dưới
7mmol/L.
Bác
sĩ
gọi
tình
trạng
nầy
là
Prédiabétique.
Nếu
đường
huyết
từ
7mmol/L
trở
lên
thì
đó
là
bệnh
diabetes
thật
sự.
Kết
quả
khảo
cứu
đã
cho
biết
là,
một
chế
độ
dinh
dưỡng
thích
nghi,
vừa
phải
và
cộng
thêm
một
chương
trình
thể
dục
đều
đặn
30
phút/ngày
sẽ
giúp
giảm
58%
nguy
cơ
bị
bệnh
tiểu
đường
type
II,
so
với
22%
nếu
chỉ
uống
Metformin
là
loại
thuốc
rất
thông
dụng
để
làm
hạ
đường
huyết
xuống
mà
thôi.
(
By
adopting
a
moderate,
consistent
diet
and
exercice
program,
many
people
with
one
or
more
risk
factors
for
type
II
diabetes
can
stop
the
disease
before
it
becomes
irreversible)
.
http://diabetes.
niddk.nih.
gov/about/
dateline/
spri02/1.
htm
Một
chế
độ
dinh
dưỡng
thích
nghi
có
nghĩa
là
ăn
nhiều
rau
cải
trái
cây,
đậu,
hạt
dẻ,
thực
phẩm
làm
từ
bột
thô
không
tinh
chế
(unrefined
complex
carbohydrate)
,
giảm
việc
ăn
thịt
đỏ
(heo,
bò)
và
thay
thế
bằng
thịt
trắng
như
thịt
gà
hay
cá.
Ngoài
ra,
cần
nên
tránh
ăn
nhiều
dầu
mỡ
và
muối.
Trong
quá
khứ,
North
Calorina
University
và
Toronto
University
(Dr
David
Jenkins)
đã
thực
hiện
nhiều
khảo
cứu
về
dinh
dưỡng
nói
lên
sự
ích
lợi
của
việc
ăn
chay
để
ngừa
bệnh
tiểu
đường
và
cholesterol
trong
máu.
Tuy
vậy,
cũng
cần
nên
biết
là
ăn
chay
phải
cho
đúng
cách
nếu
không
thì
cũng
vẫn
bị
bệnh
tiểu
đường
như
thường.
http://www.vietbao.
com/?ppid=
45&pid=6&nid=99927
Khi
đi
du
lịch
xa,
bệnh
nhân
cần
phải
đến
pharmacie
lấy
đủ
thuốc
dùng
trong
suốt
thời
gian
du
lịch.
Bệnh
nhân
mỗi
ngày
nên
tự
đo
mức
độ
đường
huyết
của
mình
bằng
cách
chích
lấy
một
giọt
máu
ở
đầu
ngón
tay
và
đọc
kết
quả
qua
máy
glucometer
để
biết
tình
trạng
thật
sự
của
mình
lúc
đó.
Bệnh
tiểu
đường
cần
phải
được
theo
dõi
và
chữa
trị
suốt
đời.
Tại
Hoa
Kỳ,
một
số
thuốc
trị
tiểu
đường
thường
thấy
sau
đây:
Class
of
Agent,
Generic
Name,
Trade
Name(s)
Sulphonylureas:
1st
generation*,
tolbutamide
chlorpropamide
tolazamide,
Orinase®
Diabinese®
Sulphonylureas:
2nd
generation,
glyburide
glipizide
glimepiride,
Diabeta®,
Micronase®,
Glynase®,
Glucotrol®,
Glucotrol
XL®,
Amaryl®
Benzoic
Acid
Derivatives,
repaglinide,
Prandin®
Biguanides,
metformin,
Glucophage®
Thiazolidinediones,
troglitazone
roziglitazone
pioglitazone,
Rezulin®
Avandia®
Actos®
Alpha-glucosidase
inhibitors
acarbose
Miglitol,
Precose®
Glyset®
*
This
is
not
a
complete
list
of
1st
generation
sulphonylureas.
Their
only
current
indication
is
cost.
When
costs
of
generic
second
generation
sulphonylureas
become
low
enough,
there
will
not
be
an
indication
for
first
generation
agents
any
longer
in
the
treatment
of
diabetes.
Tại
Canada,
các
thuốc
sau
đây
thường
được
bác
sĩ
kê
toa:
-
Metformin
(Glucophage)
-
Glyburide
(Diabeta)
-
Pioglitazone
(Actos)
-
Gliclazide
(Diamicron)
Không
ít
bệnh
nhân
tiểu
đường,
đồng
thời
với
thuốc
Tây,
họ
cũng
tự
động
uống
thêm
các
loại
thuốc
thiên
nhiên
để
mong
giúp
hạ
đường
huyết
cho
nhanh.
Kết
quả
thật
sự
ra
sao
khó
có
ai
biết
được.
http://www.yduocnga
ynay.com/
5-5NgTChanh_
HaDuongHuyet_
ThuocThienNhien.
htm
Nói
tóm
lại,
lối
sống
vội
vả
+
ăn
nhiều
fast
foods
+
ù
lì
thiếu
vận
động,
là
những
nguyên
nhân
quan
trọng
cho
sự
bộc
phát
của
những
bệnh
tim
mạch
và
bệnh
tiểu
đường.
Người
bị
bệnh
tiểu
đường
có
thể
dùng
đường
được
không?
Theo
l’Association
Canadienne
du
Diabète,
thì
họ
vẫn
có
thể
ăn
ngọt
được,
nhưng
phải
ăn
một
cách
điều
độ
chừng
mực
và
vừa
phải
thôi.
Họ
cũng
có
thể
thay
thế
đường
bằng
cách
ăn
trái
cây,
rau
cải,
hoặc
bằng
các
sản
phẩm
của
sữa.
Trong
một
ngày
họ
không
được
ăn
quá
giới
hạn
tối
đa
10%
calories
từ
các
thức
ăn
ngọt.
Thí
dụ,
một
người
có
nhu
cầu
năng
lượng
là
2000
calories/ngày,
thì
10%
tương
đương
là
200
calories.
Biết
rằng
1gr
đường
cho
4
calories...
200
calories
sẽ
là
năng
lượng
của
50
grams
(12
muỗng
café)
đường
tạo
ra.
Trên
đây
là
những
chỉ
dẫn
chung
chung
mà
thôi.
Bệnh
trạng
mỗi
người
mỗi
khác,
nên
chỉ
có
bác
sĩ
điều
trị
mới
có
thẩm
quyền
quyết
định.
Các
nhà
khoa
học
Âu
Mỹ
đều
nói
rằng
không
có
mối
liên
hệ
trực
tiếp
cho
thấy
đường
là
nguyên
nhân
gây
ra
bệnh
diabetes
type
II.
Nhưng
về
mặt
sinh
lý
học,
rất
có
thể
đường
gây
ra
bệnh
diabetes
một
cách
gián
tiếp,
chẳng
hạn
như
trong
trường
hợp
chúng
ta
thường
tiêu
thụ
những
thức
ăn
thức
uống
có
chỉ
số
đường
huyết
(glycemic
index)
cao,
khiến
tụy
tạng
bị
mệt
mỏi
và
trở
nên
yếu
đi,
vì
phải
thường
xuyên
tiết
insuline.
Gs
Jim
Mann
thuộc
Đại
Học
Otago,
New
Zeland
cũng
nhận
định
rằng
đường
gây
béo
phì
và
tình
trạng
nầy
sẽ
dẫn
tới
bệnh
diabetes.
Mập
bụng
(abdominal
obesity)
là
một
mối
nguy
cơ
(risk
factor)
làm
xuất
hiện
bệnh
tiểu
đường
type
II..
Trong
thực
tế,
rất
khó
tách
rời
ảnh
hưởng
của
đường
trong
bệnh
diabetes.
Thêm
đường
vào
thức
ăn
thức
uống
chỉ
làm
tăng
calories
ăn
vào
chớ
chẳng
làm
gia
tăng
giá
trị
dinh
dưỡng
của
sản
phẩm.
Các
khảo
cứu
về
bệnh
tiểu
đường
những
năm
gần
đây
nghi
ngờ
các
loại
nước
ngọt
có
gaz
như
Coca,
Soda,
Pepsi,
Seven
Up,
v.v...đã
dự
phần
quan
trọng
trong
sự
xuất
hiện
của
bệnh
diabetes.
Vậy
thì
Fructose
có
tốt
hơn
không?
Đây
là
đường
trích
từ
trái
cây.
Fructose
ảnh
hưởng
ít
hơn
các
loại
đường
khác
trong
việc
làm
gia
tăng
đường
huyết,
vì
vậy
từ
trước
tới
giờ
các
bệnh
nhân
diabetes
thường
được
khuyên
nên
sử
dụng
đường
fructose
để
tạo
vị
ngọt,
nhưng
ngày
nay
thì
fructose
mất
dần
sự
sáng
chói
của
nó.
Được
biết
rằng
ảnh
hưởng
của
fructose
không
mấy
quan
trọng
trong
việc
kiểm
soát
đường
huyết,
vì
nó
không
kích
thích
sự
tiết
insuline,
và
tai
hại
hơn
nữa
là
nó
làm
tăng
hàm
lượng
loại
chất
béo
xấu
triglyceride
lên.
Sự
gia
tăng
triglyceride
trong
máu
là
một
yếu
tố
làm
tăng
nguy
cơ
bệnh
tim
mạch.
Thí
nghiệm
trên
súc
vật
cho
thấy
fructose
còn
làm
tăng
sự
kháng
insuline
(résistance
à
l’insuline),
đồng
thời
cũng
làm
thay
đổi
hiện
tượng
dung
nạp
glucose
(tolérance
au
glucose)
và
hiện
tượng
cao
máu.
Thí
nghiệm
lâm
sàng
sơ
khởi
thực
hiện
ở
người,
còn
cho
biết
fructose
làm
tăng
cân
do
tác
dụng
xấu
trên
hàm
lượng
của
hai
hormones
liên
hệ
tới
sự
no
(satiété)
và
sự
đói
(appétit)...
Đó
là
hormones
leptine
và
ghréline.
Chỉ
số
đường
huyết
(Glycemic
index,
GI)
là
gì?
GI
do
Gs
David
Jenkin,
Canada
nêu
ra
đầu
tiên
vào
năm
1981.
Ý
niệm
nầy
lần
hồi
đã
thay
thế
ý
niệm
đường
đơn
giản
và
đường
phức
tạp
đã
lỗi
thời.
Chỉ
số
đường
huyết
là
vận
tốc
chuyển
hóa
của
một
carbohydrate
ra
thành
glucose
để
được
hấp
thụ
vào
máu.
Một
thức
ăn
có
GI
càng
cao
thì
đường
huyết
càng
tăng
nhanh.
Vì
vậy,
các
nhà
dinh
dưỡng
khuyên
chúng
ta
nên
dùng
những
thức
ăn
nào
có
GI
thấp
để
ngăn
ngừa
bệnh
béo
phì,
bệnh
tim
mạch
và
tiểu
đường
type
II.
Trong
thực
tế,
người
ta
thường
pha
trộn
lẫn
lộn
các
loại
thức
ăn
có
GI
khác
nhau
trong
các
bữa
ăn
hằng
ngày.
Nhìn
chung,
các
loại
đường
phức
tạp
như
ngũ
cốc,
cơm
gạo,
bánh
mì,
pasta,
spaghetti,
và
các
loại
rau
cải
xanh
là
những
thực
phẩm
chứa
nhiều
dưỡng
chất
và
chất
xơ.
Đối
với
những
loại
carbohydrate
nầy,
thì
đường
huyết
sẽ
tăng
chậm
hơn
là
nếu
dùng
các
loại
đường
đơn
giản
quá
tinh
chế
như
đường
cát
trắng
chẳng
hạn.
Tuy
vậy,
cũng
có
một
vài
ngoại
lệ,
một
số
chất
đường
phức
tạp
như
gạo
trắng,
pain
blanc,
bắp,
khoai
Tây
lại
có
GI
cao
hơn
một
số
đường
đơn
giản.
GI
cũng
có
thể
thay
đổi
tùy
theo
nhiều
yếu
tố
khác
nhau
như:
tùy
theo
kích
thước
các
phân
tử
tạo
nên
sản
phẩm,
chẳng
hạn
như
cereal
càng
nhuyễn,
càng
tinh
chế
thì
có
GI
càng
cao;
tùy
theo
cơ
cấu
sinh
hóa
(thí
dụ
gạo
Basmati
chứa
nhiều
đường
amylose
nên
có
GI
thấp
hơn
gạo
trắng
hạt
dài,
là
thứ
gạo
chúng
ta
ăn
hằng
ngày);
tùy
theo
cách
biến
chế
nấu
nướng,
như
khoai
Tây
nấu
chín
trong
nồi
có
GI
thấp
hơn
khoai
Tây
đút
lò;
bột
khoai
Tây
(purée,
flocon
de
pomme
de
terre)
có
GI
cao
hơn
GI
khoai
Tây
nguyên
củ;
carotte
tươi
có
GI
thấp
hơn
GI
carotte
nấu
chín,
v.v…
Trong
lĩnh
vực
thể
thao,
ý
niệm
GI
rất
được
các
vận
động
viên
quan
tâm
đến.
Trước
hôm
ngày
tranh
tài,
nên
ăn
những
loại
thực
phẩm
có
GI
thấp
và
GI
trung
bình,
như
pasta,
spaghetti,
chuối,
yogurt
để
dự
trữ
năng
lượng…
Ngày
tranh
tài,
thì
dùng
những
thức
ăn
dễ
tiêu,
có
GI
cao
như
các
thỏi
bánh
kẹo
ngọt
có
nhiều
đường
và
vitamins.
Ngay
sau
khi
kết
thúc
cuộc
thi
đấu,
nên
ăn
những
món
có
GI
cao
để
bù
đấp
lại
nhanh
chóng
năng
lượng
tiêu
hao.
Đây
là
một
nguyên
tắc
thường
được
các
người
tham
dự
các
cuộc
chạy
marathon
áp
dụng.
Tải
lượng
đường
huyết
(charge
glycémique,
glycemic
load
hay
GL)
là
gì?
Ý
niệm
rất
mới
mẻ
trong
dinh
dưỡng.
GL
bổ
túc
cho
chỉ
số
đường
huyết
GI.
Tải
lượng
đường
huyết
GL
có
tác
dụng
ước
định
khả
năng
làm
tăng
đường
huyết
của
một
phần
chuẩn
(par
portion,
per
serving)
của
một
thức
ăn
nào
đó.
Người
ta
tính
GL
bằng
cách
lấy
GI
nhân
cho
số
lượng
glucides
(g)
chứa
trong
phần
chuẩn
của
sản
phẩm,
sau
đó
chia
cho
100:
GL=
GI
x
quantity
glucides
(g)
per
serving/100
Thí
dụ:
1
serving
cereal
corn
flake
30g
có
GI
82
và
có
chứa
25g
glucide.
GL
của
nó
sẽ
là
25
x
82/100
=
20,5
Tóm
lại,
GI
là
thước
đo
chất
lượng
của
glucides
và
GL
là
thước
đo
số
lượng
của
glucide
hiện
diện
trong
một
thức
ăn.
Tải
lượng
GL
của
một
phần
chuẩn
thức
ăn:
-
GL
thấp
nếu
dưới
10
-
GL
trung
bình
từ
11
đến
19
-
GL
cao
nếu
từ
20
trở
lên
Tải
lượng
GL
trong
một
ngày:
-
thấp
nếu
dưới
80
-
cao
nếu
từ
120
trở
lên
Tiêu
thụ
thức
ăn
có
GI
cao
mà
đồng
thời
chứa
ít
chất
xơ
thì
rất
dễ
làm
xáo
trộn
đường
huyết.
Lâu
ngày
có
thể
làm
tăng
nguy
cơ
xuất
hiện
bệnh
diabetes
type
II
và
bệnh
tim
mạch.
Ý
niệm
tải
lượng
đường
huyết
GL
được
nhiều
nhà
dinh
dưỡng
ưa
chuộng
hơn
ý
niệm
chỉ
số
đường
huyết
GI,
vì
lý
do
GL
phản
ảnh
đồng
thời
số
lượng
và
chất
lượng
của
glucide
trong
một
thức
ăn.
Chỉ
số
đường
huyết
GI
của
một
vài
loại
thực
phẩm.
+Thức
ăn
chuẩn
là
Glucose
có
GI
=
100
+Thức
ăn
có
GI
thấp
hơn
55:
Đậu
nành
-
đậu
phọng
(15),
đậu
xanh
(30),
đậu
trắng
(38),
đậu
đỏ
(40),
sữa
(30),
yogurt
(35),
cam
(40),
táo
pomme
(39)
,
biscuit
khô
(55),
bột
lúa
mạch
oat
(50),
bún
(35),
gạo
Basmati
có
nhiều
amylose
(50),
carotte
tươi
(35),
fructose
hay
đường
trái
cây
(20),
gạo
lức
-
đậu
petit
pois
-
khoai
lang
-
bánh
mì
multigrain
-
pain
au
son
(45),
rau
cải
xanh
-
tomate
-
cà
tím,
ớt
xanh
-
hành
tỏi
-
nấm
rơm
(10),
bưởi
(22),
cam
(43),
trái
poire
(36),
khoai
mỡ
(51),
xoài
(55),
trái
pêche
tươi
(28),
nước
trái
táo
pomme
(48),
nho
tươi
(43).
+Thức
ăn
có
GI
trung
bình
56
-
69:
Càrem
(59),
nước
cam
lon
(65),
chuối
(62),
đu
đủ
(60),
pain
blé
entier,
wholemeal
bread
(69),
trái
kiwi
(58),
nho
khô
(64),
đường
cát
sucrose,
saccharose
(65),
khóm
(66).
+Thức
ăn
có
GI
cao
trên
70:
Carotte
chín
(85),
pain
blanc
(70),
cơm
trắng
gạo
hạt
dài
(72)
chứa
ít
amylose,
gạo
tấm
broken
rice
(86),
nếp
(98),
các
loại
cereal,
cornflakes
(80),
mật
ong
(
90),
Pepsi
Coca
(70),
riz
instantané
(90),
maltose
beer
(110),
khoai
Tây
chiên
fries
hay
khoai
đút
lò
(95),
khoai
tây
nấu
chín
(70),
dưa
hấu
(72),
bí
rợ
(75),
corn
chip
(72),
bánh
biscuit
khô
cracker
(78),
bánh
mì
baguette
(95).
**Chú
ý:
Cơm,
nếp
(xôi
chè,
bánh
tét,
bánh
chưng,
v.v...),
bánh
mì
baguette,
là
những
món
mà
đa
số
người
VN
mình
đều
ăn
thường
xuyên.
Đây
cũng
là
những
món
có
GI
cao
rất
dễ
làm
tăng
đường
huyết.
Nên
tránh
hoặc
ăn
thật
ít
nếu
chúng
ta
đang
có
vấn
đề
tiểu
đường.
Nên
thay
thế
chúng
bằng
những
thức
ăn
có
chỉ
số
GI
thấp
như
bún,
miếng,
rau
cải
luộc
hoặc
cơm
gạo
Basmati...
Ăn
để
giảm
mập
«Je
mange,
donc
je
maigris»...
Đây
là
tựa
đề
một
quyển
sách
của
Michel
Montignac.
Ông
này
là
người
Pháp
và
cũng
là
một
nhà
dinh
dưỡng
tự
học
lấy,
nhưng
ông
ta
lại
có
sáng
kiến
độc
đáo
đánh
trúng
vào
yếu
điểm
của
dân
Tây
phương
là
ai
ai
cũng
đều
sợ
mập
cả.
Theo
Montignac,
thì
năng
lượng
calories
không
đáng
cho
ta
quan
tâm
đến.
Thịt,
mỡ,
chất
đạm,
chất
béo
cũng
không
đáng
ngại.
Thủ
phạm
của
tình
trạng
béo
phì,
vẫn
theo
Montignac,
là
đường,
và
các
carbohydrate
quá
tinh
chế
(raffiné,
refined),
như
các
loại
khoai
Tây,
white
bread,
đường
cát
trắng,
v.v…
Muốn
giảm
cân
thì
cần
tránh
những
thực
phẩm
có
GI
cao,
chỉ
nên
dùng
những
thức
ăn
nào
có
GI
thấp
dưới
50
mà
thôi,
và
phải
biết
cách
phối
hợp
các
loại
thức
ăn
với
nhau
cũng
như
cần
ăn
nhiều
rau
cải
trái
cây
có
nhiều
chất
xơ.
Ăn
bao
nhiêu
thức
ăn
cũng
được,
ăn
cho
đến
no
thì
thôi,
không
cần
phải
hạn
chế
số
lượng
ăn
vào.
Lẽ
dĩ
nhiên,
là
ý
niệm
quá
cách
mạng
của
Montignac
đã
làm
phần
lớn
các
nhà
dinh
dưỡng
nhảy
nhỏm
lên
hết.
Phương
pháp
Montignac
đã
bị
công
kích,
đã
phá
khắp
mọi
nơi.
Tuy
vậy,
Montignac
vẫn
tìm
được
một
số
đồng
minh
cho
thuyết
dinh
dưỡng
của
mình.
Tại
Quebec/Canada,
Bs
Dumesnil
chuyên
khoa
tim
mạch
đã
hết
lòng
bênh
vực
Montignac.
Ông
lang
Tây
này
nói
là
đã
áp
dụng
thành
công
và
hiệu
quả
phương
pháp
Montignac,
và
nó
đã
giúp
ông
sụt
được
21
kg
trong
vòng
có
6
tháng
mà
thôi
(?).
Rất
nhiều
người
trên
thế
giới
đã
theo
phương
pháp
Montignac
và
xem
nó
như
một
loại
mode
trong
cuộc
sống
vậy.
Hiệp
hội
các
nhà
dinh
dưỡng
Quebec
đã
đưa
ra
nhận
xét
là
phương
pháp
Montignac
là
dỏm,
rất
nguy
hiểm
và
thiếu
cơ
sở
khoa
học
cũng
như
thiếu
những
thử
nghiệm
lâm
sàng
đáng
tin
cậy...
Thực
chất
của
phương
pháp
Montignac
là
việc
giảm
thiểu
đáng
kể
của
số
lượng
calories
ăn
vào
mà
thôi.
Phương
pháp
này
cũng
nguy
hiểm
vì
nó
không
quan
trọng
hóa
các
loại
chất
béo
và
mỡ
dầu
ăn
vào,
cũng
như
nó
không
đặt
nặng
việc
cần
phải
vận
động
tập
thể
dục
để
có
một
sức
khỏe
tốt.
Ai
chê,
ai
khen
mặc
ai,
Montignac
vẫn
phây
phây
và
đã
trở
thành
triệu
phú
nhờ
vào
hằng
triệu
sách
bestseller
của
ông
bán
ra,
cũng
như
vô
số
trung
tâm
dinh
dưỡng
theo
phương
pháp
Montignac
mọc
lên
khắp
thế
giới.
Chế
độ
ăn
uống
ít
chất
đường/bột
đường
(Low
carb
diet)
Từ
hơn
30
năm
nay,
tại
Hoa
Kỳ,
Bs
Robert
Atkins,
chuyên
khoa
tim
mạch
đã
hết
lòng
quảng
bá
và
bảo
vệ
thuyết
dinh
dưỡng
do
ông
đề
xướng
ra,
đó
là
cách
ăn
uống
ít
đường
và
bột
đường,
nhưng
ăn
nhiều
thịt
nhiều
mỡ
để
giảm
cân.
Tiếng
Anh
gọi
là
Low
carb
diet.
Theo
ông
ta,
ăn
nhiều
carbohydrate
sẽ
tạo
ra
nhiều
glucose
trong
máu,
đồng
thời
tụy
tạng
sẽ
tiết
nhiều
insulin.
Số
glucose
thặng
dư
được
chuyển
thành
mỡ
và
chất
insulin
sẽ
giúp
vào
sự
tích
tụ
của
mỡ
trong
cơ
thể.
Thông
thường,
lối
60%
năng
lượng
của
cơ
thể
có
nguồn
gốc
từ
các
loại
đường
và
bột
đường
ăn
vào.
Vậy
muốn
giảm
mập
thì
phải
giảm
chất
carbohydrate
xuống
còn
lối
40g/ngày
và
tăng
khối
lượng
chất
đạm
của
thịt
ăn
vào.
Trong
tình
trạng
thiếu
glucose
này,
cơ
thể
bắt
buộc
phải
làm
thoái
biến
số
mỡ
dự
trữ
ra
thành
các
acid
béo
và
gan
sẽ
chuyển
chúng
thành
các
chất
ketones.
Chất
này
là
nguồn
năng
lượng
của
cơ
thể
trong
điều
kiện
ăn
uống
ít
chất
carbohydrate.
Hiện
tượng
sinh
hóa
này
khoa
học
gọi
là
benign
dietary
ketosis
và
là
căn
bản
của
Atkins
diet.
Thuyết
low
carb
của
Atkins
có
vẻ
ngược
đời
nên
đã
bị
cộng
đồng
khoa
học
chỉ
trích
thậm
tệ
và
cá
nhân
Bs
Atkins
bị
ngạo
báng
hết
cỡ.
Mặc
dù
vậy,
Low
carb
diet
cũng
được
hằng
triệu
người
Hoa
Kỳ
hoan
nghênh,
trong
số
có
nhiều
tài
tử
Hollywood.
Họ
nói
Atkins
diet
đã
thật
sự
giúp
họ
giảm
cân
một
cách
mau
lẹ?
Bs
Atkins
và
phe
nhóm
của
ông
ta
đã
trở
thành
triệu
phú
nhờ
vào
việc
bán
sách
chỉ
dẫn
phương
pháp
dinh
dưỡng
Low
carb
cũng
và
như
nhờ
vào
sự
khai
thác
các
cơ
sở
kinh
doanh
Atkins
Nutritionnals.
Ngày
nay,
phong
trào
dinh
dưỡng
Low
carb
diet
đã
trở
thành
một
lối
sống
mới
đối
với
một
số
lớn
người
tiêu
thụ,
cho
nên
kỹ
nghệ
thực
phẩm
và
các
hệ
thống
nhà
hàng
fast
foods
như
Mac
Donald
cũng
nhảy
vô
ăn
có,
tạo
ra
vô
số
sản
phẩm
ít
đường
và
bột
đường
để
mong
giành
giựt
thị
trường
với
các
sản
phẩm
Atkins.
Beer
low
carb
chai
12
oz
chứa
2.5g
carbohydrate
và
97
calories,
trong
khi
loại
beer
regular
có
13g
carb.
và
146
calories.
Vậy
thực
chất
của
low
carb
diet
là
gì?
có
tốt
cho
sức
khỏe
hay
không?
Hầu
như
tất
cả
các
nhà
khoa
học
về
dinh
dưỡng
đều
chống
đối
mãnh
liệt
phương
pháp
dinh
dưỡng
của
Bs
Atkins.
Họ
nói,
low
carb
diet
có
thể
có
hiệu
quả
ngắn
hạn,
nhưng
rất
nguy
hiểm
cho
sức
khỏe
về
lâu
về
dài.
Một
chế
độ
nhiều
đạm
động
vật,
nhiều
mỡ
dầu
nhất
là
cholesterol
và
chất
béo
bão
hòa
sẽ
dẫn
đến
các
bệnh
về
tim
mạch,
làm
nghẽn
mạch
máu,
gây
tai
biến
mạch
máu
não
và
làm
gia
tăng
nguy
cơ
xuất
hiện
của
vài
loại
cancer.
Ngoài
ra,
một
khẩu
phần
quá
nhiều
đạm
động
vật
có
thể
rất
có
hại
cho
thận,
cho
gan
và
dễ
dẫn
đến
tình
trạng
loãng
xương
(osteoporosis)
.
Vì
thiếu
chất
bột
đường
(gạo,
bánh
mì,
pasta,
ngũ
cốc,
đậu)
và
rau
quả
nên
cơ
thể
sẽ
thiếu
rất
nhiều
dưỡng
chất
thiết
yếu
như
vitamins
cũng
như
thiếu
chất
xơ
khác
để
có
được
một
sự
tiêu
hóa
tốt.
The
American
Heart
Association
cũng
đã
bày
tỏ
nỗi
lo
ngại
của
mình
đối
với
phương
pháp
Atkins.
Dòng
đời
không
phải
lúc
nào
cũng
bằng
phẳng
cả
đâu.
Một
biến
cố
quan
trọng
gần
đây
đã
làm
mọi
người
bàng
hoàng
và
hoài
nghi
về
thuyết
dinh
dưỡng
Atkins.
Ngày
8
tháng
4
năm
2003,
cha
đẻ
của
thuyết
low
carb
diet
trượt
té
trên
đường
phố
New
York,
bị
hôn
mê
bất
tỉnh
trong
9
ngày
rồi
chết
sau
đó.
Phúc
trình
khám
nghiệm
cho
biết
nạn
nhân
72
tuổi,
rất
béo
phì
cân
được
258lbs
là
sức
nặng
trên
mức
quy
định
sức
khỏe,
và
rất
có
thể
ông
ta
đã
chết
vì
bệnh
tim.
Lẽ
đương
nhiên,
bà
vợ
và
phe
nhóm
của
Bs
Atkins
đã
cực
lực
cải
chính
và
nói
rằng
nạn
nhân
đã
chết
vì
bị
chấn
thương
sọ
não
mà
thôi.
Theo
họ,
ông
có
vẻ
mập
vì
đã
được
tiếp
quá
nhiều
dịch
truyền?
Họ
nghi
phúc
trình
bệnh
viện
là
âm
mưu
triệt
hạ
uy
tín
của
Bs
Atkins
cũng
như
để
đã
phá
thuyết
low
carb
diet
mà
thôi?
Thật
ra
lúc
còn
sống,
nhân
một
buổi
phỏng
vấn
Tv,
Bs
Atkins
đã
xác
nhận
là
ông
cũng
có
vấn
đề
tim
nhưng
mà
nhẹ
thôi.
Không
biết
trong
tương
lai
sẽ
còn
thuyết
gì
nữa
đây?
Ai
cũng
sợ
bệnh,
ai
cũng
sợ
chết