|
SẠN ĐƯỜNG
TIỂU [9/2011]
(Bác sĩ Nguyễn Văn Đức, Chuyên Khoa Nội Thương)
Bệnh sạn đường tiểu xảy ra không ít, và đang có
khuynh hướng tăng lên ở Mỹ. Tại Mỹ, khoảng 5.2% số
người lớn chúng ta có sạn đường tiểu. Càng cao
tuổi càng dễ có sạn, vào tuổi 70, đến 12% đàn ông
và 5% phụ nữ sẽ bị đau vì sạn đường tiểu.
Bệnh xảy ra nhiều hơn ở đàn ông. Trong suốt đời
người đàn ông, có đến 10-20% triển vọng bị sạn
đường tiểu, trong khi với phụ nữ, triển vọng sạn
đường tiểu chỉ 5-10% trong suốt cuộc đời.
Sạn đường tiểu có nhiều loại: sạn calcium oxalate,
sạn calcium phosphate, struvite, uric acid hay sạn
cystine. Các sạn calcium nhiều nhất, chiếm hơn 80%
các trường hợp sạn đường tiểu. Còn sạn struvite
hay gây nhiễm trùng đường tiểu kinh niên. Sạn ở
một người bệnh có thể thuộc cả loại này lẫn loại
kia, như vừa là calcium oxalate, vừa là uric acid.
Đa số các sạn được tạo ra trên thận (nên ta gọi là
bệnh sạn thận cũng không sai), rồi lọt xuống ống
dẫn tiểu, chỉ một số ít sạn xuất hiện ngay tại ống
dẫn tiểu. Sạn thường nhỏ thôi, dưới 1 cm, song
thỉnh thoảng cũng có hòn thực lớn, đến 3 hay 5 cm,
bằng trái chanh. Lúc còn trên thận, nơi rộng rãi,
sạn thường không gây vấn đề, song khi sạn xuống
ống dẫn tiểu, chỗ chật hẹp, nó mới hay gây triệu
chứng.
Nguyên nhân
Sạn đường tiểu được tạo do sự lắng đọng của những
chất sẵn có tại đường tiểu, khi nồng độ của chúng
lên cao bất thường trong nước tiểu. Như lúc cơ thể
ta thiếu nước (dehydration) do thói quen ít uống
nước chẳng hạn, nước tiểu trở thành đậm đặc, các
chất có sẵn trong đường tiểu dễ kết tụ rồi lắng
đọng thành sạn. Hoặc khi ta dù không thiếu nước
nhưng lượng chất tạo ra sạn, vì một lẽ nào đó lên
cao trong nước tiểu, sạn cũng dễ thành lập. Ngược
lại, trong đường tiểu cũng có nhiều chất mang
nhiệm vụ ngăn sự tạo sạn. Nếu những người bạn tốt
này tự nhiên ít đi trong đường tiểu, các chất tạo
sạn không ai cản trở, dễ tạo ra sạn.
Do hai cơ chế tạo sạn trên, rất nhiều bệnh đưa ta
đến với sạn đường tiểu (các bệnh gout, type I
distal renal tubular acidosis,
hyperparathyroidism, sarcoidosis, milk alkali
syndrome, myeloproliferative disorders,
paraneoplastic syndromes, ...), và cũng nhiều yếu
tố khiến đường tiểu của ta dễ bị sạn:
- Yếu tố di truyền:
Nhiều người mang sạn trong đường tiểu (nhất là
loại calcium oxalate) có người thân trong gia đình
cùng bị sạn như họ.
- Thực phẩm:
Ăn quá nhiều thực phẩm chứa chất đạm (protein, như
thịt, cá) và muối, hoặc các thực phẩm chứa chất
calcium oxalate (spinach, nuts, rhubarb, instant
coffee, tea, chocolate) sẽ dễ bị sạn calcium.
Người dùng quá nhiều các chất antacids (như
Maalox, Mylanta, ...), sữa, sinh tố C hoặc sinh tố
D cũng vậy.
Người dùng quá nhiều thịt, cá (protein-rich foods)
và thức ăn, thức uống chứa chất purine (đồ biển,
rượu vang, cream sauces) dễ bị sạn uric acid. Ăn
gì, uống gì cũng nên vừa phải thôi
- Thuốc dùng:
Nhiều thuốc dùng (acetazolamide, diuretics,
indinavir, antineoplastics) có thể khiến ta dễ bị
sạn đường tiểu.
Triệu chứng
"- Ôi cha! Đau quá! Đau quá! Em ơi! Đau quá!..."
2 giờ sáng. Đang ngủ ngon thình lình bạn bị cơn
đau đánh thức dậy. Cái đau ở một bên lưng dưới và
bụng, hơi khó mà định nó thực sự phát xuất từ đâu.
Nó mau chóng trở thành dữ dội, rồi từng chập, từng
chập, lan xuống cả vùng háng và bộ phận sinh dục.
Kiểu đau quặn, liên miên, lúc nhiều lúc ít. Đau
quá, đến toát mồ hôi, bạn cố tìm một vị trí nằm
cho thoải mái, nhưng nằm nghiêng hay nằm ngửa,
cũng không thấy bớt đau. Đồng thời, bạn cảm thấy
buồn nôn, có lúc còn mửa. Nước tiểu bạn có máu.
Có người bị sạn đường tiểu không lên những cơn đau
dữ dội như cơn đau của bạn (thường kéo dài khoảng
20 đến 60 phút) song hay đau ngầm ngầm ở một bên
lưng dưới, hoặc mơ hồ đau bụng, đau chỗ bộ phận
sinh dục. Có vị không đau, nhưng sạn lặng lẽ gây
tắc đường tiểu và làm hư thận.
Khi được thăm khám, bạn thấy đau một bên lúc bác
sĩ sờ nắn bụng bạn. Lúc bác sĩ đấm nhẹ vào một bên
lưng dưới của bạn (cùng bên với vùng bụng sờ thấy
đau), bạn cũng cảm thấy đau nữa.
Ngoài việc khám bụng, bác sĩ cũng để ý xem bạn có
thiếu nước (miệng, lưỡi trông khô, áp huyết xuống
thấp, ...), và sốt không. Nếu bạn quả thiếu nước
trong cơ thể (dehydration), bạn cần được truyền
nước trong bệnh viện (một chai "nước biển" truyền
trong phòng mạch chẳng ăn thua gì). Nếu bạn có sốt,
tình thế nguy ngập hơn, vì sạn khiến đường tiểu
tắc nghẽn và thận bạn đã nhiễm trùng rồi, biết đâu
các vi trùng còn vào luôn cả máu gây nhiễm trùng
máu. Trường hợp này, bạn cần được chữa bằng thuốc
trụ sinh truyền tĩnh mạch và ta cần khai thông
đường tiểu gấp gấp (urinary decompression), kẻo
nước tiểu ứ trên thận, khiến nhiễm trùng thận đâm
khó chữa và trở thành nguy hiểm.
Trắc nghiệm và phim chụp
Sạn đường tiểu hay gây chảy máu, nhiều khi mắt ta
không nhìn thấy, nhưng khám phá được bằng phương
pháp phân tích nước tiểu (urinalysis, xem nước
tiểu dưới kính hiển vi).
Song không phải trường hợp sạn nào cũng gây chảy
máu, trong 10% các trường hợp sạn đường tiểu, khi
phân tích nước tiểu, chúng ta không thấy có máu.
Có khi phân tích nước tiểu cho thấy những tinh thể
(crystals) bất thường trong nước tiểu, may ra giúp
bác sĩ nghĩ đến loại sạn nào đang làm phiền bạn.
Bạn cũng cần thử máu, để xem chức năng của thận
bạn có còn tốt, đồng thời ta đo luôn các chất
calcium, uric acid, phosphate trong máu, xem chúng
có lên cao.
Có người còn cần thử cả nước tiểu lấy trong 24
tiếng, xem khối lượng nước tiểu trong 24 tiếng
nhiều hay ít (urinary volume), xem các chất
calcium, oxalate, citrate, uric acid, cystine có
tăng cao trong nước tiểu. Với nước tiểu lấy như
vậy, ta có thể làm luôn trắc nghiệm "nitroprusside"
nếu nghi sạn thuộc loại cystine.
Một số sạn đường tiểu có thể thấy được trên phim
chụp bụng thường. Song bây giờ các bác sĩ hay làm
CT scan bụng (non-contrast helical CT Scan) để
khám phá sạn đường tiểu, vì CT scan có độ chính
xác gần như 100%. Ngoài ra, nếu không phải sạn
thận, CT scan cũng giúp chúng ta khám phá một tình
trạng khác cũng có thể gây những triệu chứng giống
sạn thận, như ung thư thận chẳng hạn.
Những ngày chưa có CT scan, để tìm hiểu vấn đề,
các bác sĩ thường chụp phim thận với chất cản
quang (intravenous pyelography, gọi tắt IVP: chất
cản quang được chích vào cơ thể bạn, phim được
chụp trong lúc chất cản quang đang thải qua thận,
xuống ống dẫn tiểu rồi vào bọng đái). IVP có thể
xác định sạn to hay nhỏ, hình dạng, vị trí của sạn,
và xem thận bạn còn làm việc tốt không, đường tiểu
có chỗ nào tắc nghẽn vì sạn chăng. Nhưng IVP gây
hại nhiều hơn CT scan, như dị ứng (allergy) với
thuốc cản quang, hơn nữa, mức độ chính xác cũng
kém hơn CT scan, nên IVP nay không còn được dùng
nhiều như trước.
Phương pháp siêu âm (ultrasound) hay được dùng để
khám phá sạn đường tiểu ở phụ nữ mang thai, vì
siêu âm vô hại cho thai nhi trong bụng người mẹ.
Tuy nhiên, mức độ chính xác của siêu âm không bằng
CT scan và IVP.
Bài kỳ sau, chúng ta sẽ tìm hiểu việc chữa trị sạn
đường tiểu.
Bác sĩ Nguyễn Văn Đức, Chuyên Khoa Nội Thương
8748 E. Valley Blvd., Ste. H
Rosemead, CA 91770
(626) 288-3306
|
|