|
Tập thể dục và Suy Tim
[11/2011]
(Bác sĩ Trần Mạnh Ngô)
Theo Bs Fabrio Esposito xuất bản trong báo J. Amer Col
Cardiology ngày 20 tháng 9, 2011, thì sau khi tập thể
dục ruỗi chân, lượng dưỡng khí ở chân tăng cao tới
53%. Mạch máu nhỏ bắp thịt ở cơ tứ đầu chân và tỉ
trọng ty lạp thể cũng tăng cao.
Theo các tác giả thì khi bệnh nhân được tập thể dục
cho bắp thịt chân dưới giúp tăng lưu thông mach máu
nhỏ dưới chân, tăng dưỡng khí, và dưỡng khí tăng di
chuyển từ sắc tố hồng huyết cầu (hemoglobin) vào ty
lạp thể. Phương pháp này giúp cho bệnh nhân suy tim có
khả năng tập thể dục mà không bị ảnh hưởng tới sức bơm
máu tối đa của tim.
Chất Chondritin và bệnh phong thấp Osteoarthritis
xương bàn tay
Bs Cem Ga bay thuộc Đại Học Genève, Thụy sĩ và các
đồng nghiệp vừa phổ biến kết quả khảo nghiệm cho bệnh
nhân phong thấp ở tay khi dùng chát Chondritin. Thử
nghiệm trong vòng 6 tháng, cho những bệnh nhân đã bị
phong thấp (osteoarthritis) trong 6 năm. Theo kết quả
khảo cứu thì chất chondritin giúp giảm đau phong thấp
ở tay, giúp cho ngón tay cử động khá hơn, và giảm hiện
tượng tay bị cứng ngắc vào buổi sáng. Ngoài ra cũng
giúp tăng cường sức co bóp của tay khá hơn. Tuy nhiên
theo các tác giả thì cần thêm nghiên cứu sâu rộng hơn
để làm sáng tỏ vấn đề.
Suy Tim tăng cao nguy cơ gẫy xương
Bs Sumit Mạumda thuộc Đại Học Y Khoa Alberta trong
cuôc trình bày kết quả nghiên cứu tại cuộc Hội thảo
Amer Society for Bone and Mineral Research cho biết:
bệnh nhân lớn tuổi suy tim tăng cao gẫy xương do bệnh
rỗng xương khoảng 30%. Thử nghiệm cho 50 bệnh nhân
người lớn trên 50 tuổi cho biết khoảng 10% bệnh nhân
bị suy tim bị chứng gãy xương so với 5% bệnh nhân bị
gãy xương không bị suy tim.
Bệnh nhân suy tim có nguy cơ gãy xương khoảng 28%
trong vòng 5 năm không kể những yếu tố khác kể cả mật
độ của xương.
Bài này khuyến cáo lưu ý tình trạng xương của bệnh
nhân suy tim. Cũng cần thêm nghiên cứu để làm sáng tỏ
vấn đề.
Di Thể TNFRSF1B+676 T>G và Ung Thư Phổi
Di thể đa dạng TNFRSF1B +676 T>G và chẩn đoán Ung Thư
Phổi loại non-small cell trong khi điều trị bằng cách
tổng hợp xạ trị và hoá học trị liệu
Tường trình này do Bs Xiaoxiang Guan và các đồng
nghiệp vừa xuất bản trong báo British Medical Cancer (BMC)
ngày 14 tháng 10, 2011.
Theo các tác giả thì có liên hệ giữa TNFRSF1B +676 GG
genotype và tỉ lệ sống sót bệnh nhân bị ung thư phổi
loại non-small cell tăng cao. Phân tích xác xuất Cox
cho thấy có thể coi TNFRSF1B +676 GG như một chỉ số
dùng để tiên lượng ung thư phổi loại non-small cell
trong trường hợp ung thư phổi loại này đã lan vào hạch
bạch huyết hay ở trong giai đoạn nào đó của ung thư
phổi non-small cell đang phát triển.
Thử nghiệm di thể mô ung thư có thể giúp chẩn đoán
thời gian bệnh nhân sống sót được thêm bao lâu khi mới
chớm bị ung thư phổi loại không có vẩy (non-squamous),
non small cell, sau khi bệnh nhân vừa điều trị bằng
cách giải phẫu cắt bỏ ung thư phổi. Theo các tác giả
trình bày trong hội nghị Ung Thư phổi lần thứ 4 thì
nếu chẩn đoán bệnh không có hy vọng sống sót lâu dài
sau khi thử nghiêm di thể thì có thể thêm vào cách hoá
học trị liệu để kéo dài đời sống cho bệnh nhân.
Loạn điều chỉnh TNF-TNFR thường thấy ở nhiều loại ung
thư kể cả ung thư phổi non- small cell. Ngoài ra, loạn
chức năng TNF-alpha và TNFRSF1B có thể làm hư hại biểu
hiện di thể gây nguy cơ ung thư.
Theo các chuyên gia thì cần thêm nghiên cứu để làm
sáng tỏ vai trò di thể đa dạng
TNFRSF 1B + 676 T>G trong việc trị liệu ung thư phổi
loại non-small cell.
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô thông tin
|
|